June 22, 2013

Ca-tỳ-la-vệ quê hương Đức Phật Gotama

Những nẻo đường gió bụi cứ mãi dài ra, những thế kỷ xa mờ cứ hiện dần trên các lối vắng mà Đức Phật để lại bao dấu tích phong trần trên bước đường đi tìm sự giải thoát cho nhân loại. Một trong số đó là thành Ca Tỳ La Vệ thiêng liêng – quê hương của bậc giác ngộ.

Rời Lâm Tỳ Ni, chúng tôi đi lên phía Bắc để tìm về quê hương của Đức Phật – thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilvastu) nằm tại vùng Tilaurakot, thuộc biên giới Ấn Độ và Nepal, cách Lâm Tỳ Ni khoảng 27 km. Trên con đường gập ghềnh đầy nắng gió và bụi đường, lòng tôi cứ ngóng trông để mau diện kiến và chiêm bái cổ thành lịch sử mà tôi chỉ biết qua trong phim ảnh, sách vở nhà Phật.


Con đường vào cố đô Ca Tỳ La Vệ

Một cảnh tượng hết sức thú vị đang diễn ra trước mắt chúng tôi khi chiếc xe buýt chạy qua một buôn làng, nơi ấy người ta đang reo hò mừng ngày lễ tạ điền của dân bản xứ, trên đường phố đông người qua lại. Người lái xe cho biết, chưa bao giờ vùng này có nhiều phụ nữ ngoài đường như thế! Những tà sari muôn màu rực rỡ bay phất phới như cánh bướm vờn hoa. Những nam thanh nữ tú cùng người lớn và trẻ em, đều đổ cả ra đường vui chơi ca hát hay đúng hơn ra đồng để tạ ơn ruộng đã cho họ một mùa đầy lợi tức.


Tuy ở chốn biên thùy nhưng vì là đồng bằng nên dân cư nơi này khá đông đúc. Dân chúng quanh vùng sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và canh tác các loại nông sản. Cảnh vật thanh bình mang lại cảm giác lâng lâng nhẹ nhõm như sự sửa soạn trước khi đến quê hương của Đức Phật.

Đoạn đường từ Lâm Tỳ Ni đến Ca Tỳ La Vệ chỉ cách nhau khoảng 27 km nhưng phải mất hơn 1 giờ đồng hồ xe mới đưa chúng tôi đến một nơi mà mình hằng mong đợi. Từ chỗ xe đậu, chúng tôi phải đi bộ thêm vài phút băng qua một làng quê giống như những làng mạc ở miền Tây Nam Bộ. Có những rặng tre gai đong đưa trong gió rì rào, có những chú trâu nằm gác mõm trên thành chuồng đưa đôi mắt với hàng mi dài, ngơ ngác nhìn khách bộ hành. Có cả sếu đầu đỏ nhởn nhơ bên cạnh con người. Mảnh đất này đúng là thiên đường của động vật hoang dã, con người quá từ bi, quá hiền lành và quá yêu súc vật.

Những bước chân đầu tiên tiến vào khuôn viên cổ thành Ca Tỳ La Vệ, trước mắt chúng tôi là những phế tích ngổn ngang với hàng trăm ngàn viên gạch đã rêu phong và bào mòn theo năm tháng. Nhìn đống gạch đổ nát ấy, quanh tôi như văng vẳng những câu hát của các em trong gia đình Phật tử hát về kinh thành của thái tử Sĩ Đạt Ta, mà hình ảnh đó chỉ còn trong thơ và nhạc. Cảnh tiêu sơ làm chạnh lòng khách viễn phương. Dù vậy, vài hàng gạch trải dài theo bờ kẽm gai sét rỉ, những tàng cây sum suê với hoa màu lửa… cũng làm vơi đi sự hoang tàn.

———————————————–

Nhìn đống gạch đổ nát ấy, quanh tôi như văng vẳng những câu hát của các em trong gia đình Phật tử hát về kinh thành của thái tử Sĩ Đạt Ta, mà nay hình ảnh đó chỉ còn trong thơ và nhạc.

———————————————

Chạm tay vào những viên gạch trong khuôn viên Ca Tỳ La Vệ, tôi như cảm thấy những thế kỷ xa mờ đang hiện về. Thật vậy, Ca Tỳ La Vệ thực sự là một điểm đến quan trọng, là một trong những thánh địa liên quan đến một con người vĩ đại cách đây hơn 2.500 năm. Thứ nhất về khoảng cách thì nó cách Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đản sinh khoảng 27km, thứ 2 đây là nơi mà Đức Phật đã sống 29 năm đầu tiên trong cuộc đời của mình, thứ 3 là nơi mà ông tiên A-tư-đà đã ngồi thiền định để xem tướng cho thái tử Sĩ Đạt Ta, thứ 4 là nơi mà 500 người trong dòng họ Thích Ca đã xin quy y thọ giới với Đức Phật và cuối cùng đây cũng chính là nơi chư thiên đã đi xuống cầu Phật nghe pháp.

Về lịch sử, vào năm 636, Ngài Huyền Trang đã đến thăm viếng ngôi thành cổ này và diễn tả một cách chi tiết trong Đại Đường Tây Vực ký: “Thành Ca Tỳ La Vệ kiến trúc theo lối cổ kính, xây dựng toàn bằng gạch đá quý, bức tường thành vẫn còn, và kiến tạo rất kiên cố. Hiện tại chỉ còn 634 phố, nhà lơ thơ và một ít dân chúng đang sống ở đó. Chung quanh có độ 100 tịnh xá bị hư hỏng. Gần chỗ này có một ngôi tịnh xá vĩ đại, 30 tu sĩ tiểu thừa và hai ngôi đền của Bà La Môn giáo”.

Như vậy, kinh thành Ca Tỳ La Vệ tuy không phải là một vương quốc lớn nhưng cũng vô cùng trù phú. Tương truyền rằng, khi xưa Ca Tỳ La Vệ là một khu rừng hoang, khi đó một vị thánh giả Kapil Gautama (tạm dịch: Ca Tỳ Cồ Đàm) đã khuyên thái tử Ikshwaku đến đó để lập nghiệp. Thái tử được mọi người biết qua tên Sakya đã nghiễm nhiên trở thành Sakya Gautama và đặt tên cho vương quốc của mình là Kapilvastu (Ca Tỳ La Vệ). Thái tử Sĩ Đạt Ta đã xuất thân chính từ dòng dõi này. Thái tử đã sinh ra và lớn lên trong nhung gấm lụa là, trong tình yêu thương tuyệt đối của hoàng thân quốc thích, tràn ngập niềm hạnh phúc với vợ đẹp con xinh, sự kính trọng nể vì của toàn bộ tộc Thích Ca (Sakyā), sự hy vọng và ngưỡng mộ của toàn dân kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Để rồi, từ trải nghiệm và chứng kiến những thái cực của cuộc đời, nghèo giàu, khổ đau và hạnh phúc, sự sống mong manh, cái chết vô thường… đã dẫn đến cuộc ra đi vĩ đại, cuộc ra đi vô tiền khoáng hậu, cuộc ra đi làm nên trang sử vàng, chính là sự có mặt của đạo Phật cứu khổ ban vui, vì lợi ích cho vạn loại hữu tình trên hành tinh này.

Một kinh thành chứa đầy kỷ niệm, một kinh thành không thể tách rời Phật giáo, một kinh thành không chỉ là quê hương Đức Phật mà còn là quê hương của bao người con Phật. Càng hình dung trong trí tưởng tượng cho sự huy hoàng tráng lệ của một kinh thành cổ xưa, lòng tôi cảm thấy xót xa, buồn thảm, khi một lần dừng chân nơi này! Giờ đây, trước mắt chúng tôi chỉ là một phế tích: những bức tường dài ngang dọc đổ nát rêu phong, những bụi cây hoang dại mọc um tùm, bao hầm hố gò đống trên lối đi mà không một bàn tay chăm sóc… Phía Tây chỉ còn sót lại nền gạch cũ cùng với tấm bảng xác định vị trí của các nhà khảo cổ. Đối mặt sau của cổng thành phía Tây khoảng hơn một cây số là cửa thành Đông, nơi mà nửa đêm rạng ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, thái tử Sĩ Đạt Ta đã âm thầm rời bỏ kinh thành đi tìm đạo giải thoát. Bên ngoài cổng thành Đông là cánh đồng phì nhiêu, mọi người cùng với trâu bò làm việc trong nắng ấm thanh bình. Xa xa cách cổng thành Đông khoảng 200 m, có một cái tháp nhỏ, tương truyền rằng, nơi đó chính là chỗ mà con tuấn mã Kiền Trắc đã đứng và chết tại đó sau khi từ giã thái tử trở về lại kinh thành.

Ngài Pháp Hiển đến chiêm bái thành Ca Tỳ La Vệ vào năm 403 sau Tây lịch, đã nhìn thấy toàn vùng này là một rừng hoang cỏ dại, dân cư thưa thớt, và những di tích phế tàn. Một vài tu sĩ khổ hạnh tu tập tại đây và độ 30 gia đình dân chúng đang sinh sống. Ngài đến hỏi thăm các vị tu sĩ về thánh tích này, các vị ấy cho biết toàn vùng này chính là thành Ca Tỳ La Vệ thời xưa, và họ cố ở lại đây để giữ gìn thánh tích này, nhưng không đủ phương tiện phục hưng, đành phải ngắm nhìn nó dưới sự tàn phá của thời gian.

Có nhiều sử liệu ghi lại về sự suy tàn của kinh thành lịch sử này, trong đó có câu chuyện liên quan đến dòng họ Thích. Tương truyền vào thời Đức Phật, vua dòng Ikshvaku tên Prasanjit (Ba Tư Nặc) vì muốn bang giao với dòng họ Thích nên đã cho người đến để cầu hôn. Ngược lại, dòng họ Thích lại cho rằng vua Ba Tư Nặc không phải thuộc dòng Sát Đế Lợi nên không muốn gả công chúa, nhưng vì khiếp phục nước Kosala là một cường quốc nên đã cho Vasbhaktiya, một thị nữ, cải trang làm công chúa về với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc đã phong nàng làm hoàng hậu và không lâu sau Đông cung thái tử Tỳ Lưu Ly được sanh ra. Khi Thái tử Tỳ Lưu Ly trưởng thành và muốn về thăm quê ngoại, bà Vasbhaktiya hết sức cản ngăn, nhưng chàng nhất định đi. Thái tử Tỳ Lưu Ly cũng được tiếp đón theo thể chế của một quốc khách và được cho ngụ tại sứ quán. Khi thái tử ra về thì sứ quán được rửa bằng sữa tươi. Một người hầu của thái tử vì bỏ quên đồ và trở lại sứ quán đã chứng kiến cảnh này về thuật lại cho thái tử. Chàng ta vô cùng tức giận và nguyền rằng không phải chỉ rửa sứ quán mà sẽ rửa cả Ca Tỳ La Vệ bằng máu.

Sau đó chàng đã âm mưu tước ngôi vua nhân dịp nhà vua đi thăm Đức Phật để nghe giảng pháp. Khi vua hay tin này đã phải chạy đi Ma Kiệt Đà để lánh nạn nhưng không may giữa đường băng hà. Thái tử Tỳ Lưu Ly đã ba lần mang quân đi đánh Ca Tỳ La Vệ nhưng hai lần đầu đều bị Đức Phật ngăn cản. Trong lần thứ ba thì chàng đã thành công. Thành Ca Tỳ La Vệ đã rửa bằng máu của dòng họ Thích, chỉ một số ít là thoát chạy đi đến vùng Kathmandu. Ngài Huyền Trang ghi rằng số tử vong lên đến 9.990, cho đến đứa trẻ sơ sinh cũng không thoát khỏi lưỡi gươm quái ác kia.

Từ đó Ca Tỳ La Vệ đã trở thành một nơi hoang dã, dầu vậy vẫn có một số người vì cảm nhớ ân giáo dưỡng của Đức Phật đã đến đó xây đền kỷ niệm. Tuy nhiên không một di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời của Đức Phật nào hoang tàn như nơi đây. Có lẽ phải vài mươi năm nữa, Ca Tỳ La Vệ mới trở thành một trung tâm chiêm bái. Dầu vậy, những học giả chiêm bái thời xưa đã không ngại gian lao tìm đến nơi này và giữ lại những kỷ niệm qua nét bút nên chúng ta mới có cơ hội tìm về vết xưa và xin hãy đứng yên nơi đây cho dòng tư tưởng dõi theo những ký sự xa xưa.

Cũng trong khuôn viên cố thành Ca Tỳ La Vệ, chúng tôi lần theo sự chỉ dẫn của người dân địa phương để đến tham quan một số phế tích còn sót lại được xem là tối quan trọng đối với Phật giáo như: ngôi mộ của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da, vườn Nigrodha thuộc làng Kudan, Sagarhava – nơi dòng tộc Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly sát hại…

Từ cửa thành Đông, lần theo lối mòn hướng về phương Bắc khoảng 2 cây số chúng ta thấy có hai nền gạch, một lớn một nhỏ nằm trong khu đất trũng dưới mặt đường khoảng 3m. Chúng ta không thể ngờ rằng, hai ngôi mộ được cho là của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā) vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, mặc dù điều này vẫn đang được nghiên cứu chứng minh về sự thật. Người dân cho biết rằng, ngôi mộ lớn là của vua Tịnh Phạn và ngôi mộ nhỏ là của hoàng hậu Ma Da.

Cách Tilaurakot khoảng 1 km về hướng Tây Nam là vườn cây Nigrodha thuộc làng Kudan, nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách với biết bao thương nhớ và hy vọng mà phụ hoàng đã dành cho thái tử. Vì vậy, đức vua đã yêu cầu Phật, sau này bất cứ ai muốn trở thành sa môn thì phải được sự chấp thuận của cha mẹ, nếu họ còn sống. Đức Phật chấp nhận lời đề nghị của vua cha. Tại nơi đây, vua Tịnh Phạn đã sắc lệnh cho xây dựng ngôi tịnh xá tên là Nigrodhamma làm nơi tu hành của Đức Phật và cháu đích tôn La Hầu La (Rāhula) khi trở về thăm bổn quốc. Tại ngôi tịnh xá này, Đức Phật đã trải qua 15 mùa an cư và thuyết một số bài kinh tiêu biểu như: Tiểu Kinh Khổ Uẩn (số 14), Kinh Mật Hoàn (số 18) … thuộc Trung Bộ kinh.

Rời cổ thành Ca Tỳ La Vệ mà lòng tôi muôn vàn lưu luyến. Một miền đất tràn ngập bao điều huyền nhiệm và lòng tiếc thương vô hạn.

- Nguồn: http://www.thegioiphatgiao.vn

Lâm tỳ ni – Thánh địa Đức Phật Đản Sinh

Vào mùa Noel, bà con giáo dân bày Hang đá Bethlehem và máng cỏ đón Chúa Hài đồng. Vào những ngày tuần trăng tháng 4 âm lịch, bà con Phật tử cũng trang hoàng vườn Lâm tỳ ni để mừng Đức Phật giáng thế!



Năm nay, Phật tử nước ta có cuộc thi thiết kế vườn Lâm tỳ ni tại nhà và gửi ảnh dự thi thật ý nghĩa. Biểu tượng Lâm tỳ ni đã trở thành quá quen thuộc, gần gũi với hình tượng Hoàng hậu Ma-gia vịn tay lên cây hoa Sala và Đức Phật vừa chào đời đã đứng trên bông sen một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, hào quang lung linh… theo trí tưởng tượng của từng gia đình, từng địa phương…

Vậy Lâm tỳ ni ở đâu? Thánh tích trải qua gần 2.600 năm trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn giờ đây ra sao? Đó là ao ước của nhiều người và may mắn, tôi đã được đặt chân đến Lâm tỳ ni.

Lâm tỳ ni xưa kia là một vùng cách kinh thành Ca Tỳ La Vệ độ nửa ngày đi đường bằng xe gia súc kéo. Giờ đây Lâm tỳ ni thuộc quận Rupandehi, phía tây nước Nepal, cách cửa khẩu biên giới Sonauli giao với Ấn Độ 36 km.

Lịch sử Phật giáo chép rằng: Theo tục lệ địa phương Hoàng hâu Ma-gia trên đường từ kinh thành Ca Tỳ La Vệ trở về quê mẹ để sinh. Khi đến vườn Lâm tỳ ni, dừng lại nghỉ ngơi, bà tắm ở hồ, rồi bước lên 28 bước đến cây Sala thì sinh hoàng tử Tất Đạt Đa – Vị hoàng tử mà sau này đã từ bỏ ngôi báu, từ bỏ kinh thành xuất gia tu hành để trở thành Đức Phật Thích Ca. Ngày sinh Đức Phật giờ đây cũng được Thế giới thống nhất là 15/4 âm lịch.

Hồ nước nơi Hoàng hậu từng tắm và Đức Phật bước lên 7 toà sen

Địa điểm vườn Lâm tỳ ni ngay từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, cụ thể là năm 249 trước công nguyên đã được Nhà vua A Dục – một người mến mộ đạo Phật xác định, xây đền thờ, bảo tháp và cột đá để tôn vinh Thánh địa muôn đời!
Gần 1000 năm sau, nhà sư Pháp Hiển, rồi đến Đường Huyền Trang tìm đến, Huyền Trang đã ghi chép rõ ràng về Trụ đá do vua A Dục dựng nên: Trên trụ đá có 5 dòng chữ với nội dung như sau: Quốc vương Pridarsin được sự phù hộ của Thánh thần sau khi lên ngôi vua được 20 năm đã đến đây đảnh lễ. ĐÂY LÀ NƠI ĐỨC PHẬT THÍCH CA ĐẢN SINH, Vua ra lệnh miễn thuế nghi lễ và chỉ thu 1/8 thuế lợi tức đối với dân chúng vùng Lâm tỳ ni.

Phật tử Việt Nam phái Trúc lâm tụng niêm trước cột đá Vua A Dục

Căn cứ vào những tư liệu quý giá ấy, đến thế kỷ 19, nhà khảo cổ người Đức đã phát hiện chính xác địa điểm có trụ đá vua A Dục và nền móng khu đền thờ Hoàng hậu, nền móng tịnh xá, hồ nước nổi tiếng thiêng liêng.

Côt đá Vua A Dục

Thế nhưng phải đợi đến 100 năm sau, năm 1996, khi những nhà khảo cổ phát hiện ra được tảng đá mà Vua A Dục đánh dấu vị trí chăm nuôi Đức Phật trong những giờ phút chào đời, thì vào năm 1997 UNESCO mới chính thức đưa Lâm tỳ ni vào danh sách di sản văn hoá Thế giới

Đền thờ Hoàng hậu Ma-gia, nơi đặt phiến đá đánh dấu địa điểm Đức Phật Đản sinh

Được vinh danh di sản Văn hoá thế giới, vườn Lâm tỳ ni được Tổ chức UNESCO, Nhà nước Nepal quy hoạch và bảo vệ chu đáo. Trung tâm khu di sản có Khu đền thờ Hoàng hậu Ma-gia, hồ nước Hoàng hậu tắm trước khi sinh, cây bồ đề cổ thụ, trụ đá vua A Dục, nền móng tịnh xá, những vườn hoa…

Cây bồ đề cổ thụ nơi tín đồ khắp nơi đến ngồi thiền

Hầu như trong khu vực này không có nhà hàng, khách sạn, xe cộ đi lại cũng phải để khá xa. Khách hành hương nếu không đi bộ quen thì có thể đi xe đạp.

Ngoài khu Bảo tàng Trung tâm thì Thánh địa Lâm tỳ ni được chia thành hai khu, khu bên phía đông dành cho các công trình và tu viên thuộc phái Nam tông, khu phía tây là những công trình dành cho phái Bắc tông.

Có thể nói Lâm tỳ ni từng có một quá khứ huy hoàng và thiêng liêng, nhưng vào thế kỷ thứ 12 sau Tây lịch, trong cơn cuồng phong tàn sát đạo Phật từ tây nam tràn lên, Lâm tỳ ni cũng bị hoang tàn xơ xác vùi lấp dưới tầng sâu của sườn núi Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ mà khắc nghiệt.
May mắn cho tôi được Nguyễn Phương Giao, một sinh viên Trường Thuốc miền Nam Ấn Độ, sẵn lòng mộ đạo đi cùng đã giúp chúng tôi tìm hiểu khá kỹ càng những gì mà Vườn thiêng gánh chịu sau hàng ngàn năm.

Chiêm bái tảng đá nới đánh dấu Đức Phật đản sanh.

Có lẽ trước tôi cũng đã có nhiều người Việt đến chiêm bái Lâm tỳ ni, xa hơn nữa thì chưa xác định, nhưng trong vòng bốn chục năm nay thì có thể nói thầy Thích Huyền Diệu là một người Việt Nam đến sớm và ở lâu nhất trên mảnh đất thiêng này. Thầy đến đây từ năm 1969, trước cảnh tiêu điều của những gì còn sót lại, thầy ước ao xây được một ngôi chùa Việt tại Lâm tỳ ni để giúp những người Việt từ khắp nơi trên thế giới có chỗ tìm về Đất Phật.

Thầy ước vậy và đến năm 1993, khi nhận đất xây chùa, thầy chỉ có 60 đô la Mỹ trong túi nhưng thầy vẫn dựng chòi bám đất xây chùa, từ một giảng viên Đại học ở Paris tiện nghi hiện đại đến một nơi không điện, không nước, sống giữa đầm lầy đầy rắn rết, muỗi mòng… để mở đất xây chùa đầu tiên trong tiến trình “Phục hưng” một Di sản Văn hoá Nhân loại hàng đầu… Thật đáng ghi nhận sự cống hiến của một nhà sư mang dòng máu Việt.

Trong vòng hai thập niên khôi phục với sự góp sức của nhà nước và các tổ chức tôn giáo, đã có hơn 20 nước và vùng lãnh thổ đến xây chùa, tu viện, bảo tàng, thư viện tại đây. Mỗi nước một phong cách.

Chùa Bhutan

Chùa Trung Quốc mang dáng dấp một Thiếu Lâm tự cổ kính, chùa Thái với một màu trắng tinh ấn tượng, Chùa Tây Tạng màu đỏ huyền bí như những chiếc cà sa mà các sư Tây Tạng vẫn mặc.

Chùa Tây Tạng

Hàn quốc xây cơ sở nghiên cứu với giảng đường to rộng, Nhật Bản xây tháp Hòa bình… Là người Việt, chúng tôi đứng lặng trước cổng chùa Việt Nam, với cổng tam quan hết sức thân thuộc. Cùng với chính điện tôn nghiêm, trong khuôn viên còn có Chùa Một Cột, đứng chụp hình tại đây mà cứ ngỡ như đáng đứng giữa Hà Nội vậy.

Tam quan chùa Việt Nam

Chùa Một Cột tại Việt Nam Phật quốc tự ở Lâm tỳ ni

Năm 1993, thầy Thích Huyền Diệu nhận đất xây chùa, đến ngày 12/12/2012, thầy tổ chức lễ hoàn nguyên và cầu nguyện Hòa bình với hàng trăm người Việt từ Âu, Á, Mỹ, Úc về đây cùng các nhà tu hành từ hàng chục quốc gia trên thế giới và nhân dân sở tại hòa chung tiếng mõ cầu kinh nói lên ý nguyện chung sức tôn tạo vườn thiêng Lâm tì ni đúng tầm là Di sản văn hóa Nhân loại.

Hồng hạc lại về với Việt Nam Phật quốc tự, với Lâm tỳ ni

Đứng ở chính điện nhìn xuống sân chùa một bản đồ Việt Nam thống nhất hiện lên nhắc nhở bà con người Việt bất cứ từ nơi nào đến với Đất Phật cũng luôn nghĩ về Việt Nam quê nhà.

Nguyễn Lương Phán
Nguồn: http://www.thegioiphatgiao.vn

Thành Vương Xá (Rājagaha, Rajgir)

Theo Thiên anh hùng ca Ramayana của Ấn giáo thì Rājagaha do Vasu, người con thứ tư của Brahma xây dựng. Nhưng đó chỉ là huyền thoại. Lịch sử của kinh thành chỉ có thể được bắt đầu từ vua Bimbisara. Và việc xác nhận kinh thành ngày nay chủ yếu dựa theo hai cuốn ký sự của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang.

Cổng Thành Vương Xá

Sơ lược lịch sử

Vương Xá (Rājagaha) thuộc quận Nalanda, tiểu bang Bihar, cách Boddhagaya khoảng 46km và thủ phủ Patna 60km về hướng Đông nam. Bên cạnh tên gọi Rājagaha được dùng trong kinh điển Pāli, địa danh này còn có nhiều tên gọi khác như Vasumati, Barhadrathapura, Girivraja, Kusagrapura và Rajgir. Tên gọi Kusagrapura được ngài Huyền Trang nhắc đến trong ký sự của mình, nhưng Huyền Trang nói rằng tên gọi này chỉ dành gọi kinh thành cũ, nơi luôn bị đe dọa bởi nạn hỏa hoạn. Còn kinh thành mới được xây lại sau đó thì có tên gọi Rājagaha, là kinh đô của vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà) với vị vua trị vì là Bimbisara (Tần-bà-sa-la). Lịch sử hình thành nên kinh thành này vẫn chưa được biết rõ, tuy có một số hiện vật bằng đất sét được tìm thấy nơi đây có niên đại một ngàn năm trước Tây lịch. Theo Thiên anh hùng ca Ramayana của Ấn giáo thì Rājagaha do Vasu, người con thứ tư của Brahma xây dựng. Nhưng đó chỉ là huyền thoại. Lịch sử của kinh thành chỉ có thể được bắt đầu từ vua Bimbisara. Và việc xác nhận kinh thành ngày nay chủ yếu dựa theo hai cuốn ký sự của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang.

Rājagaha có thể nói là mảnh đất gắn liền với Phật giáo. Thái tử Siddhattha sau đêm vượt thành xuất gia đã tìm đến nơi này khởi đầu cho việc tìm đạo. Tại nơi đây, vua Bimbisara khi nhìn thấy ngài khất thực trên đường đã cố nài nỉ Ngài từ bỏ con được tu sĩ, quay trở lại đời sống thế tục để thụ hưởng những vui thú thế gian mà một bậc vương tử đang có, và hứa sẽ chia quyền cai trị vương quốc của mình cho ngài nếu ngài nghe theo lời khuyên của mình. Nhưng khi nhận thấy lời nói của mình không lay chuyển được ý chí của một vị tu sĩ trẻ, nhà vua đã thôi không thuyết phục nữa mà mời vị tu sĩ trở về viếng thăm kinh thành khi mục đích thành tựu. Vị tu sĩ hứa với nhà vua sẽ quay trở lại, sau đó rời kinh thành này, đi đến nhiều nơi tìm thầy học đạo.

Sau sáu năm tu tập, vị thái tử năm xưa đã chứng đắc đạo quả và trở thành một vị Phật. Nhớ lại lời hứa trước đây với nhà vua, vào năm đầu tiên sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật đã trở về Rājagaha để viếng thăm nhà vua. Khi Đức Phật trở lại nơi đây, nhà vua và quần thần của ông đã đón tiếp Ngài cùng các đệ tử rất long trọng. Trong lần viếng thăm này, nhà vua đã cúng dường lên Đức Phật Trúc Lâm tịnh xá (Veluvana) để làm nơi cư trú cho Tăng chúng. Và cũng trong lần này, Đức Phật đã thâu nhận hai vị đại đệ tử là Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Mogallana). Bên cạnh đó, trong lần này cũng có rất nhiều dân chúng của Rājagaha phát tâm quy y và xuất gia theo Ngài, đặc biệt trong số này có Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Nigantha Nattaputta, Sanjaya Belatthaputta, Upatissa, Kolita, Abhaya và Upāli…

Đức Phật đã an cư mùa mưa đầu tiên tại tịnh xá Trúc Lâm, và sau khi kết thúc kỳ an cư, Ngài đã lên đường trở về Capilavatthu để thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách. Theo Buddhavamsa (Phật sử) của Sri Lanka thì Đức Phật đã trải qua năm kỳ an cư tại kinh thành này. Ngoài lần đầu tiên ra, Ngài còn ở đây vào các lần thứ ba, thứ tư, thứ mười bảy và hai mươi tính theo thứ tự trong 45 năm thuyết pháp độ sanh của Ngài. Ngoài các kỳ an cư, Đức Phật hẳn đã đến nơi đây nhiều lần, vì có rất nhiều bài kinh cũng như giới luật được thuyết giảng và chế định tại Rājagaha trong những bối cảnh khác nhau.

Cũng tại nơi đây, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) vì tham vọng, đã có những hành động bất thiện đối với Đức Phật. Ông đã từng cho lăn đá, thả voi say Nalagiri… nhằm hãm hại Đức Phật, nhưng những việc làm ấy đều thất bại. Đề-bà-đạt-đa còn cấu kết với thái tử A-xà-thế (Ajatasatru), cùng làm những điều bất chính. Một người thì tìm cách đoạt ngôi từ cha mình, còn một người thì lập mưu hãm hại bậc Đạo sư của mình, nhằm giành lấy ngôi vị lãnh đạo Tăng đoàn.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, Rājagaha được các Tỳ-kheo chọn làm nơi kiết tập kinh điển lần thứ nhất. Kỳ kiết tập diễn ra tại động Sattapanni, dưới sự chủ trì của ngài Ca Diếp và sự bảo trợ của vua A-xà-thế. Nhà vua cũng cho dựng một ngôi tháp tại đây để thờ xá-lợi của Thế Tôn mà ông nhận được tại Kusinagar.

Lịch sử về Rājagaha chỉ được biết rõ vào khoảng thời gian thế kỷ thứ V trước Tây lịch nhờ vào những kinh sách của Phật giáo.Sau đó vị trí chính trị xã hội của nơi này không còn được chú ý khi hậu duệ của vua A-xà-thế đã dời đô về Pataliputta. Nhưng dù Rājagaha không còn là kinh đô sau đó, nó vẫn còn là một trung tâm Phật học và là một nơi hành hương nổi tiếng của các Phật tử trong những thế kỷ tiếp theo. Sự kiện vua Ashoka sau một thời gian lên ngôi đã đến chiêm bái nơi này, cho dựng một ngôi tháp và trụ đá, cho thấy sinh hoạt Phật giáo vẫn còn tồn tại ở đây vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch.

Khi Pháp Hiển đến chiêm bái nơi này vào đầu thế kỷ thứ V, ngài mô tả rằng Rājagaha đã đổ nát, nhưng bên ngoài kinh thành vẫn còn có một số tự viện và có các Tăng sĩ sống ở đó. Ngài Pháp Hiển cũng đề cập đến nhiều địa danh và chùa tháp ở tại nơi đây, như núi Linh Thứu, tháp do vua A-xà-thế xây để thờ xá-lợi của Đức Phật, tháp do vua Ashoka dựng, và những ngôi chùa tháp khác. Theo ngài Pháp Hiển thì có hai thành Vương Xá, một cũ và một mới: “Đi về phía Tây khoảng một dặm sẽ đến kinh thành mới của Vương Xá. Thành này do vua A-xà-thế lập ra, giữa thành có hai ngôi chùa. Ra khỏi cửa thành phía Tây sẽ đến một ngọn tháp, do vua A-xà-thế dựng lên để thờ xá-lợi Đức Phật mà xưa kia vua được chia một phần. Ngọn tháp này đồ sộ, đẹp đẽ và tôn nghiêm. Ra cửa thành phía Nam, đi độ bốn dặm về phía Nam, chúng tôi đến một thung lũng, thung lũng này đưa đến năm ngọn đồi; năm ngọn này như một bức thành bao bọc một vùng đất rộng, đó là thành Vương Xá cũ của vua A-xà-thế. Thành này rộng từ Đông sang Tây độ 5, 6 dặm, từ Bắc đến Nam độ 7, 8 dặm. Chính tại chỗ này ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên lần đầu tiên nhận chân được diệu pháp, cũng là chỗ mà Ni-kiền-đà đào một hố sâu đầy lửa và dâng đồ ăn có thuốc độc cho Đức Phật. Và cũng là chỗ mà con voi say cuồng của vua A-xà-thế chạy đến để hại Đức Phật và đã được Đức Phật hàng phục”.

Ngài Huyền Trang đến đây thế kỷ thứ VII đã mô tả kinh thành này rất chi tiết. Ngoài những gì Pháp Hiển đã nói, ngài còn đề cập đến nhiều địa danh khác và những sự kiện liên quan đến mỗi địa danh, như nơi Đức Phật thuyết kinh Diệu pháp liên hoa (Saddharma-pundarika), phiến đá nơi Tôn giả Ananda ngồi thiền định và bị quỷ sứ dọa nạt, nơi ngài Xá Lợi Phất cùng các vị đại A-la-hán nhập định, tảng đá nơi Đức Phật phơi áo cà sa, các suối nước nóng và nước lạnh, nơi ngài Ca Diếp cùng 499 vị A-la-hán đã triệu tập hội nghị kiết tập kinh điển…

Có thể nói rằng hai cuốn ký sự của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang là những tài liệu quý giá nhất còn lại trong việc tìm hiểu về lịch sử Rājagaha. Hầu hết các chùa tháp như được đề cập đến trong hai cuốn ký sự ngày nay đã không còn tìm thấy, nhưng các địa điểm như những hang động, đồi núi, suối nước nóng… vẫn còn nhận diện được. Rājagaha bắt đầu được khảo sát vào những năm đầu của thế kỷ XX, và tất cả chẳng còn gì ngoài những tường thành đổ nát và một số nền chùa tháp vùi dưới lòng đất. Nhưng căn cứ trên những bờ thành này, các nhà khảo cổ, dựa theo hai cuốn ký sự của Pháp Hiển và Huyền Trang, đã tìm đến những địa danh khác liên quan đến Phật giáo.

Những địa điểm chiêm bái

Trong số các địa danh được xác định có thể kể đến Veluvana (Trúc Lâm tịnh xá), ngôi nhà đá Pippala, hang động Sattapanni, ngục tù Bimbisara, vườn xoài Jivaka, núi Gijjhakuta (Linh Thứu), Maddakucchi…

Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana)


Trúc Lâm là một trong số những ngôi tịnh xá nổi tiếng vào thời Đức Phật. Tịnh xá này do vua Bimbisara cúng dường Đức Phật nhân lần đầu Ngài viếng thăm Vương Xá sau khi giác ngộ. Tại nơi đây, Đức Phật đã thuyết giảng nhiều bài kinh và cũng thâu nhận nhiều đệ tử xuất gia cũng như tại gia. Trúc Lâm được mô tả là một nơi lý tưởng cho việc tu tập, nhưng cũng thuận tiện cho các hàng đệ tử đến nghe pháp. Thời Đức Phật, trước cổng tịnh xá có hai ngôi tháp thờ Tôn giả Mục Kiền Liên và Kiều Trần Như. Vị trí ngôi tịnh xá này được xác định là nằm giữa thành Vương Xá mới và những ngọn đồi bao quanh thung lũng. Ngày nay nó cách các suối nước nóng vào khoảng 150m về hướng Bắc, gần những ngôi đền của Hindu và Hồi giáo. Trong tịnh xá có một hồ nước có tên là Kalandanivāpa (hay Karaṇḍa kanivāpa) từng được nhắc đến trong kinh điển Phật giáo, là nơi Đức Phật thường tắm rửa. Ngài Huyền Trang có nhắc đến hồ nước này trong ký sự của mình. Cách hồ nước này không xa về hướng Nam có một gò đất lớn, xung quanh có một số ngôi mộ của người Hồi giáo, được cho là khu tịnh xá Trúc Lâm cũ. Toàn cảnh khu vườn này không có gì đặc biệt ngoài cây xanh và trúc, nhưng nhìn chung nó được chăm sóc và bảo quản tốt, có người quét tước cũng như canh giữ.

Hang động Sattapanni

Hang động Sattapanni là nơi diễn ra kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất, bốn tháng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn. Hang động này nằm trên một ngọn đồi. Chúng tôi chiêm bái nơi này vào một sáng sớm đầy gió và se lạnh. Ở dưới chân đồi, dù còn sớm nhưng đã thấy rất đông người, nhưng hầu hết họ đến đây để tắm và lấy nước ở những con suối nước nóng ở chân đồi chứ chẳng có ai trèo lên núi để chiêm bái hang động này. Đường lên động, sẽ đi qua một nền đá hình chữ nhật cao khoảng 7 đến 8m với chiều dài 29m và chiều rộng 25m, được cho là nhà Pippala, nơi Tôn giả Ca Diếp đã từng cư trú như được đề cập trong kinh điển Pāli. Theo Đại phẩm, Tương ưng bộ kinh V, tại nơi đây nhân một lần Tôn giả Ca Diếp bị bệnh nặng, vào một buổi chiều Đức Thế Tôn sau khi xả thiền đã đến thăm tôn giả và thuyết giảng về Thất giác chi, và sau khi nghe giáo lý này Tôn giả Ca Diếp đã thoát khỏi bệnh.

Hang động Sattapanni như được mô tả trong sách sử là chứa đến năm trăm vị A-la-hán, nhưng diện tích hiện nay trông hết sức khiêm tốn. Tôi không rõ chiều sâu của hang động bao nhiêu, vì quá tối mà không có dụng cụ chiếu sáng nên không thể vào được, nhưng nghe nói là sâu khoảng 36m. Một số nhà khảo cổ vẫn còn nghi ngờ về địa điểm này, và không biết có phải vì lý do này hay không mà ở đây người ta không cắm bảng như ở những nơi khác, và cũng chẳng thấy có sự đầu tư nào cho địa danh này. Nó chỉ là một hang động nhỏ nép mình hiu hắt bên vách núi đá quay mặt xuống thung lũng. Nhưng dù chưa được xác quyết một cách chắc chắn và không được bảo quản thì động núi này vẫn thu hút các Phật tử chiêm bái khi họ đến Vương Xá. Ở đó có bệ thờ để cho khách hành hương dâng hương hoa, và cũng có cả người bán hoa ở đó. Và cũng có cả người dẫn đường nếu người nào chưa biết đường lên hang động này.

Linh Thứu (Gijjhakuta)

Linh Thứu được xem là một địa điểm quan trọng tại Vương Xá. Địa điểm này là nơi Đức Phật nhiều lần đến thuyết giảng.Đường lên núi tuy khá cao nhưng tương đối dễ đi vì đã được lát đá. Con đường này từng được gọi là đường Bimbisara, bởi vì vào thời Đức Phật, nhà vua đã cho xây nó để ông được thuận tiện mỗi khi thăm viếng Đức Phật lúc Ngài trú trên Linh Thứu. Con đường ngày nay hẳn nhiên là mới xây lại sau này. Đến gần đỉnh núi, có hai hang động nhỏ, được cho là nơi hai Tôn giả Xá Lợi Phất và A-nan đã từng trú ngụ. Trên đỉnh núi có một nền gạch, được xác nhận là hương thất của Đức Phật. Và có lẽ điểm quan trọng nhất đối với khách chiêm bái Linh Thứu là nơi này. Ở nơi đây, người hành hương có thể tụng kinh hay kinh hành quanh hương thất.

Theo văn học Đại thừa thì Linh Thứu chính là nơi Đức Phật đã thuyết kinh Pháp hoa (Saddharmapundarika Sutra), kinh Thủ lăng nghiêm tam muội (Surangama Samadhi Sutra), Kinh Bát-nhã (Prajna-paramita Sutras). Và vì vậy địa điểm này rất đặc biệt đối với những Phật tử theo truyền thống Đại thừa, trong đó phải nói đến Nhật Bản, nơi mà Liên hoa tông rất thịnh hành. Một bên đỉnh núi này, có ngôi tháp Vishwa Shanti rất lớn và một ngôi chùa của Nhật Bản. Để lên tháp, khách hành hương có thể trèo núi nhưng cũng có thể đi bằng cáp treo, một công trình do chính người Nhật đầu tư. Trong các nước theo Phật giáo Bắc truyền, có thể nói Nhật Bản là quốc gia có đóng góp rất lớn trong việc khảo cổ cũng như kiến tạo lại các thánh tích ở Ấn Độ.

Vườn xoài Jivaka

Jivaka (Kỳ-bà) là một vị y sĩ danh tiếng vào thời Đức Phật. Ông là con trai của Sālavatī, một kỹ nữ nổi tiếng tại Vương Xá. Bà Sālavatī sau khi sanh nở, đã đem con mình bỏ tại một đống rác. Và cậu bé này được Thái tử Abhayarājakumāra nhìn thấy và mang về nuôi. Khi lớn lên, ông rời hoàng gia và ra đi học nghề thuốc. Sau bảy năm học tập, ông trở thành một thầy thuốc tài giỏi, đi khắp nước trị bệnh cho mọi người, và ông rất được vua Bimbisara và Ajatasatru trọng dụng. Ông cũng là một đệ tử thân tín của Đức Phật. Sự kiện ông trở thành đệ tử của Đức Phật được mô tả trong bài kinh số 55, Trung bộ kinh II. Bài kinh này thuật rằng, khi nghe Đức Phật thuyết giảng một số vấn đề liên quan đến việc thực hành hạnh ly tham, sân, si, thực tập từ bi và thọ nhận thực phẩm, Jivaka đã phát tâm quy y theo Ngài. Sau đó, ông đã cúng dường vườn xoài của mình lên Đức Phật để Ngài làm nơi cư trú cho Tăng chúng. Ông cũng là người đã điều trị vết thương nơi chân Đức Phật khi bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá ở núi Linh Thứu.

Theo kinh Samannaphala, Trường bộ kinh, thì Jivaka cũng là người đã thuyết phục vua Ajatasatru đến viếng thăm Đức Phật; và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, nhà vua đã chứng đắc được quả Dự lưu. Jivaka cũng cho xây dựng một tịnh xá nơi đây. Trong các kinh điển hệ Pāli, khu vườn này được mô tả nằm giữa cổng thành hướng Đông và núi Linh Thứu. Khi Huyền Trang viếng thăm nơi này thì ngài thấy ở đây có một bảo tháp; và nền tịnh xá cũng như nhà của Jivaka vẫn còn. Việc xác định khu vườn xoài của Jivaka ngày nay chủ yếu vẫn dựa theo cuốn ký sự này.

Ngục giam Bimbisara

Ngục giam Bimbisara, chỉ còn là một nền đá rộng vài chục mét vuông. Chính tại đây vua Bimbisara đã bị người con của mình là Ajatasatru giam giữ. Theo kinh sách, từ nơi ngục giam này vua Bimbisara có thể nhìn thấy Đức Phật khi Ngài ở Linh Thứu.Và nhà vua đã qua đời ở tại chính ngục giam này. Về sau, Ajatasatru khi nghe Đức Phật thuyết giảng, nhận ra được tình thương và công lao của cha mẹ đối với con cái, ông đã quy y theo Phật, sám hối lỗi lầm xưa bằng những việc làm thiện của mình.

Maddhakucchi

Maddhakucchi nằm dưới chân Linh Thứu. Chính nơi đây, Hoàng hậu Vedehi khi được tiên đoán rằng thai nhi mà bà đang mang trong mình sau này sẽ là một kẻ giết cha, nên đã cố phá bỏ bào thai đó. Nhưng khi vua Bimbisara biết được sự việc, ông đã can ngăn bà. Theo kinh điển Pāli thì thời Đức Phật, nơi đây có một khu vườn nuôi nai và một tu viện. Và cũng chính tại đây, Đức Phật đã bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá và bị thương nơi chân.

Cách đến Rājagaha
Sân bay gần nhất là Patna Airport, nằmở thủ phủ của bang Bihar, cách Rājagaha (Rajgir) khoảng 115km. Mặc dù cũng có ga tàu ở Rājagaha, nhưng có lẽ tiện lợi hơn là nên đến ga Gaya và sau đó đi xe đến địa danh này. Rājagaha cách ga Gaya vào khoảng 78km. Về đường bộ, Rājagaha có những tuyến đường nối kết với các thành phố lớn của tiểu bang Bihar như Patana và Gaya. Nhưng thông thường đối với những người chiêm bái là Phật tử, việc đi đến Rājagaha thường được thực hiện sau khi đã đến Bodhgaya, do đó hầu như các chuyến đi đến địa danh này được khởi từ Bodhgaya bằng xe. Về thời điểm chiêm bái, cũng như việc chiêm bái các Phật tích khác ở Ấn, thích hợp nhất là từ đầu tháng mười đến tháng Ba.

Nguyễn Đăng
Theo Giác Ngộ

Đến “cái nôi của Phật giáo” để trải nghiệm những điều thú vị

Nepal là 1 quốc gia không giáp biển ở vùng Nam Á, nằm giữa vùng từ trị Tây tạng của Trung Quốc và Ân Độ. Là quốc gia sở hữu 8 trong 10 đỉnh núi cao nhất thế giới- bao gồm Everest- đình núi cao nhất thế giới- nằm ở biên giới Tây Tang và Lumbini- quê hương của Phật Gautama, cái nôi của Phật giáo.


Đầu tiên trong hành trình đến với đất nước Nepal hiền hòa, du khách không nên bỏ qua chuyến tham quan thành phố Kathmandu xinh đẹp và cổ kính, là trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội của Nepal.

Với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, Kathmandu được coi là thành phố thủ đô độc đáo nhất ở châu Á. Đối với các tín đồ đạo Phật và Hindu, đây là một trong những địa điểm hành hương lý tưởng.

Kathmandu là thành phố, thủ đô của Nepal, nằm ở miền Trung. Thành phố tọa lạc trên một vùng đất thấp màu mỡ (thung lũng Nepal) ở phía nam Himalayas, tại độ cao khoảng 1.220m, gần đoạn hợp lưu của sông Bghmati và sông Vishnumati. Kathmandu được thành lập năm 723 và được dân tộc Newar cai trị trong nhiều thế kỷ. Năm 1768, thành phố này bị triều Shah chiếm đóng và trở thành kinh đô của họ. Từ 1846 đến 1951, dòng họ hùng mạnh Rana đã cai trị Nepal từ thành phố này. Đây là thành phố lớn nhất và cũng là trung tâm văn hóa, hành chính, kinh tế chính của vương quốc núi non này.


Kathmandu đã có lịch sử hình thành gần 2.000 năm. Tên gọi Kathmandu bắt nguồn từ một ngôi đền ở quảng trường Durbar có tên gọi là Kasthamandap. Trong tiếng Sanskrit, từ Kastha có nghĩa là “gỗ” và Mandap có nghĩa là “nơi ẩn náu được che chắn”. Ngôi đền Kasthamandap còn có tên gọi khác là Maru Sthal được vua Laxmi Narsingh Malla cho xây dựng vào năm 1596. Toàn bộ cấu trúc của ngôi đền này được làm bằng gỗ mà không có sự trợ giúp của bất kỳ một chiếc đinh hay thiết bị chống đỡ nào bằng sắt. Đặc biệt, có truyền thuyết cho rằng toàn bộ số gỗ được sử dụng để dựng nên ngôi đền cao hai tầng này đều được lấy từ một cây gỗ duy nhất. Kathmandu còn được người dân gọi là Kantipur. Kanti là tên gọi thay thế của vị thần Lakshmi, và pur nghĩa là một nơi ở của thần linh. Do đó, từ Kantipur có nghĩa là nơi ở của thần Lakshmi.

Kathmandu là nơi thu hút khách du lịch nhất của Nepal, nơi đây đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia này. Với những thắng cảnh nên thơ do thiên nhiên ưu đãi cộng với cơ sở hạ tầng hiện đại vào bậc nhất. Đến Kathmandu du khách sẽ có những kỳ nghỉ tốt nhất khi tới Nepal. Tiếng Anh được sử dụng rất phổ biến ở thành phố này. Bên cạnh đó, nhiều người dân Kathmandu cũng có thể nói được tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Hàn Quốc… Do đó, ngôn ngữ không phải là một rào cản khi bạn đến Kathmandu. Hai tôn giáo chính ở Kathmandu cũng như ở Nepal là Ấn Độ giáo và Phật giáo. Vì vậy những địa danh của nơi đây cũng gắn liền với những tín ngưỡng của Ấn Độ giáo và Phật giáo.


Kathmandu là nơi giao thoa giữa hai tôn giáo Ấn Độ giáo và Phật giáo, chính điều này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Nepal. Đặc điểm nổi bật nhất mà du khách có thể thấy được ở thành phố Kathmandu là những công trình chùa chiền, đền thờ và bảo tháp. Tất cả những công trình kiến trúc chùa chiền, đền thờ, bảo tháp và cung điện nguy nga tráng lệ hàng ngàn năm tuổi đời ấy đều được xây dựng phần lớn từ gỗ với nhiều họa tiết chạm trổ khéo léo, tinh xảo và công phu.


Trong vô số những đền chùa, bảo tháp mà du khách có thể viếng thăm ở Kathmandu, công trình nổi tiếng hơn cả là khu đền Swayambhu, nằm phía tây thành phố. Còn có tên gọi là Đền Khỉ do có nhiều khỉ sinh sống ở đền. Đây là ngôi đền rất linh thiêng. Do đền nằm ở vị trí khá cao nên từ đây du khách có thể chiêm ngưỡng phong cảnh của toàn thành phố. Ngoài ra, du khách cũng không thể bỏ qua Khu đền Baudha, Bảo tàng Cung điện Narayanhiti, đền Pashupatinath, Khu vườn của giấc mơ, quảng trường Durbar.


Bên cạnh đó, du khách còn có thể tham quan một số địa điểm thú vị khác của thành phố Kathmandu như những khán phòng lộng lẫy ở tòa nhà chính của Bảo tàng cung điện Narayanhiti, khu vườn của những giấc mơ thanh bình và xinh đẹp. Khung cảnh yên tĩnh với nhiều cây xanh ở đây sẽ tạo cho du khách cảm giác thoải mái và dễ chịu.

Du khách còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính của quảng trường Durbar – trái tim của Kathmandu, đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới. Quảng trường này đã có từ những năm 1000 sau Công nguyên.


Không những là một thành phố đậm màu sắc văn hóa và lịch sử, Kathmandu còn là nơi tuyệt vời để du khách mua sắm những món quà lưu niệm cho người thân. Những sản phẩm như quần áo, thảm, vải vóc được dệt bằng tay chất lượng cao với đủ loại hoa văn và màu sắc phong phú… được bán ở chợ Indra hoặc quảng trường Durbar. Nét thú vị ở đây chính là cách mời chào bền bỉ của người bán hàng Nepal. Khi một anh chàng bán hàng lưu niệm mời mua hàng, thì du khách khó lòng từ chối.Tuy nhiên, không phải kiểu đeo bám thô thiển mà rất… nghệ thuật, người bán mời cho đến khi du khách vui vẻ mua món hàng như là… gặp may.

Đến với Nepal, du khách thường lựa chọn những loại hình du lịch như đi xe đạp, chèo thuyền, ngắm cảnh… để trải nghiệm sự đa dạng kỳ thú từ phong cảnh, hệ sinh thái của những khu rừng cận nhiệt đới đến hệ sinh thái mỏng manh của vùng núi cao, ngắm loài báo tuyết, gấu trúc đỏ…. và vô vàn hoa.


Hoa ở Nepal vô cùng phong phú về chủng loại do sự đa dạng về thời tiết và địa hình, từ những loài hoa nhiệt đới ở Terai đến những loài hoa quý hiếm như tầm xuân đại đóa vốn chỉ có thể tìm thấy ở những vùng băng tuyết. Có nhiều giống lan quý và họ hoa đỗ quyên mà phần lớn những loài này không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Lati-Guras, lễ hội của họ nhà hoa đỗ quyên, được tổ chức hàng năm ở Helambu. Lati-Guras là tên hoa đỗ quyên đỏ, loài hoa bản địa đặc trưng của Nepal. Nepal được xem như thiên đường của những người yêu hoa.

Ngoài ra, du khách cũng sẽ hiểu rõ văn hóa Nepal qua nền văn hóa Phật giáo Bön Buddhist hay trải nghiệm cuộc sống cùng tộc người Sherpas và tộc người theo thuyết Shamanism.


Đặc biệt, Nepal nổi tiếng là điểm đến ưa thích của môn thể thao mạo hiểm leo núi, hiện có khoảng hơn 150 ngọn núi đã được mở cửa để chào đón du khách đến với môn thể thao này.

Món ăn phổ biến nhất ở Kathmandu là Momo, một loại bánh có nguồn gốc từ vùng núi Tây Tạng, gần giống với bánh bao. Tuy nhiên, nhân bên trong của chúng có thể là thịt trâu, thịt gà, rau và có thể được hấp hoặc rán lên. Những nhà hàng có các món ăn ngon, nhất là các món ăn từ nhiều nền văn hóa khác nhau cùng với dịch vụ tốt và có giá hợp lý nhất bao gồm Helenas Rooftop, Thamel House, Aqua Java Zing, Krua Thai, Cafe Kaldi, La Dolce Vita, Tashi Delek, Northfield Café, New Orleans, Third Eye…

Ngoài ra, Nepal còn nổi tiếng về cà phê có những hương vị khác hẳn với các loại cà phê trên thế giới, nên chắc chắn những ai sành cà phê sẽ có thêm những trải nghiệm thú vị khi đến Kathmandu.

Chi Na

Bún riêu chay

1. Cà rốt, củ sắn, su su, củ cải, v..v… cắt nhỏ nấu lấy nước lèo.

2. Cà chua rửa sạch, bổ múi cau. Hành khô lột bỏ vỏ, băm nhỏ. Hành hoa nhặt bỏ rễ và lá già, rửa sạch, thái nhỏ.

3. Ốc đậu mua về để ra giá, dùng một cái muỗng khác đè xuống cho nát ra. (Ốc đậu để vào nồi nước lèọ, khi nước sôi đậu sẽ nổi lên như riêu cua.) Nếu không mua được ốc đậu, thì mua extra soft tofu và soft tofu, riêu cũng nổi lên ngon lắm. Nếu dùng soft tofu and extra soft tofu thì nên bóp nhỏ hai loại này, rồi bỏ vô máy xay, cho thêm một chút tương cự đà cho có mùi mắm, xay khoảng 2 phút. Đổ ra tô. Tôm chay và cua chay cũng xay nhỏ


4. Phi thơm hành khô, bỏ cua tôm chay vô xào, cho 1 chút tomato paste, để cho màu đỏ đẹp, đảo đều. Sau đó cho tiếp 1/2 chỗ cà chua vào xào cho đến khi cà chua chín mềm thì dùng thìa tán nhuyễn, gắp bỏ vỏ cà chua ra.Xong cho đậu hũ xay vào, cho một muỗng rưỡi canh bột mì vào cho nó kết tinh dính riêu lại với nhau, nếu muốn riêu cứng thì cho bột mì nhiều một chút, còn muốn riêu mềm thì bỏ ít bột mì lại. Lấy muỗng múc từng muỗng đổ vô nồi riêu, riêu sẽ nổi lên từng mảng rất đẹp.

5. Đổ dầu vào nồi, phi boa rô cho thơm, xong bỏ phần cà chua còn lại vô xào, rồi bỏ nước lèo vào nấu sôi, nêm nếm cho vừa ăn .

6. Cho riêu cua đã xào vào nồi, đun ở mức lửa vừa phải. Dùng đũa khuấy đều cho đến khi thấy riêu cua bắt đầu nổi lăn tăn thì không quấy nữa.- Khi nước sôi, riêu cua bám thành tảng thì hạ lửa ở mức nhỏ nhất đun thêm một chút nữa, rồi dùng muôi thủng vớt riêu cua ra một cái đĩa.

7. Đậu hũ đem thái thành những miếng nhỏ vừa ăn rồi rán vàng hai mặt, cho đậu hũ chiên vào nồi nước lèo, và cuối cùng để dầu điều màụ vào cho có màu sắc đẹp, nêm nếm thêm bột nêm chay, hay 1 cục gia vị nấu bún riêu chay vào nồi nước lèo cho vừa miệng rồi tắt bếp.

8. Cho bún vào tô, xếp riêu cua, đậu hũ, giá, rau muống chẻ… lên trên bún rồi chan nước dùng vào và thưởng thức ngay khi còn đang nóng nhé.


Ăn bún riêu cua kèm với các loại rau sống, chanh, tương ớt. Khi ăn, nếu thích thì cho thêm chừng chút xíu tuơng Cự đà vô tô bún cho bốc mùi mắm, đúng hương vị của bún riêu.

Mai Diệu Sương

Bánh mì xíu mại chay

Bánh mì xíu mại chay là một món ăn cho buổi điểm tâm sáng tương đối dễ làm, xin được giới thiệu với bạn đọc nhân rằm tháng 4 sắp tới.

Nguyên liệu:

Đậu khuôn trắng, nấm mèo, chân nấm đông cô, dưa leo, rau thơm, rau ngò, bánh mì.

Xíu mại chay cho bữa sáng – Ảnh: Nguyên Hân

Cách làm:

- Đậu khuôn trắng luộc, để ráo, giã nhuyễn.

- Nấm mèo, chân nấm đông cô xắt nhuyễn uớp gia vị, xào dầu với pa-rô, xong trộn chung với đậu khuôn giã nhuyễn, vo tròn hấp xong để nguội.

- Phi pa-rô với dầu cho vàng thơm, cho vào một ít ớt bột. Món bánh mì xíu mại thường có vị cay sẽ ngon hơn. Cho nước dùng nấu từ củ quả nêm bột canh chay, đường muối vừa ăn cho xíu mại đã hấp chín để nguội vào.

Ăn kèm bánh mì – Ảnh: Nguyên Hân

Bánh mì xíu mại chay ăn kèm với dưa leo xắt lát mỏng, rau ngò và rau thơm.

Hy vọng món bánh mì xíu mại chay sẽ được thêm vào thực đơn món chay của gia đình quý bạn đọc.

Nguyên Hân
Theo Giác Ngộ

Chả ram bắp cho ngày chay

Vào những ngày chay, để thay đổi khẩu vị món bún chả ram bắp cũng là một gợi ý. Hiện đang là mùa bắp, bắp nhiều chất dinh dưỡng, dễ chế biến, đặc biệt là những món thuần chay. Giác Ngộ Online giới thiệu đến quý độc giả món chả ram bắp…

Cách làm:

a/ Chả ram- Bắp lột bớt vỏ, luộc nguyên trái, bắp chín lột sạch vỏ bào mỏng.
- Pa-rô xắt nhuyễn
- Ướp cùng với tiêu, đường, một ít bột canh chay. Do bánh tráng cuốn chả ram thường mặn nên phần nhân lưu ý không nêm muối.
- Bánh tráng nếu loại bánh lớn thì chia làm bốn cho nhân và cuộn tròn.

Chả ram bắp làm dễ, ăn ngon – Ảnh: Nguyên Hân

- Chảo nóng cho dầu vào, cho những cuộn ram bắp vào chiên ngập dầu, thấy vàng đều là được. Chiên trên lửa vừa.
- Ram bắp vỏ bên ngoài có vị dòn của bánh tráng, nhân có vị dẻo ngọt thơm của bắp đã ướp thêm gia vị.

b/ Nước chấm
Cho kiệu ngâm chua ngọt, ớt bỏ hạt, tỷ lệ 3 đường 1 muối xay nhuyễn hỗn hợp trên. Xong pha nước lọc vào, vắt thêm một ít chanh. Nước chấm có vị chua ngọt khi dùng với ram bắp sẽ ngon hơn. Lưu ý món chả ram bắp sẽ ngon hơn một phần cũng nhờ vào nước chấmCách dùng:Món ram bắp có thể ăn kèm với rau sống và nước chấm. Có thể làm món khai vị. Hoặc ăn kèm với bún tươi và dưa leo và rau sống xắt nhuyễn đều ngon.

Món ram bắp với những nguyên liệu đơn giản, dễ làm, hy vọng quý độc giả sẽ thực hiện thành công, tạo hương vị mới cho gia đình vào tháng 4 này.

Nguyên Hân giới thiệu
Theo Giác Ngộ

Bún chay ngày rằm

Ngày rằm, mùng một những người ăn chay kỳ thường hay làm những món đơn giản vì nghĩ rằng chỉ ăn chay một hai bữa thì nấu đại khái vài món đơn giản. Đồng thời, cũng có nhiều gia đình trường chay, mong muốn mọi người trong gia đình thích thú với việc ăn chay thay đổi khẩu vị mà không có nhiều thời gian chuẩn bị. Do đó, tôi xin được giới thiệu món bún chay học được từ những buổi ăn cơm chùa.

Bún chay ăn với rau – Ảnh: Nguyên Hân

Món bún chay ăn kèm rau tươi cũng rất hợp lý cho những người bận rộn nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng – vì nếu nấu cơm thì phải nấu nhiều món (canh, mặn, xào… và cơm). Nấu bún chỉ nấu một lần, rất nhanh không mất nhiều thời gian chuẩn bị.

Nguyên liệu cho món bún chay gồm: nấm bào ngư, nấm rơm, đậu khuôn, rong biển, khóm, cà chua, rau cô- rôn, rau thơm, tía tô, rau răm, ngò, sả, ớt…

Đậu khuôn trắng luộc giã nhuyễn, nấm bào ngư xắt nhuyễn, chiên vàng trộn chung với đậu và rong biển, nêm nếm gia vị vo lại từng viên tròn xong hấp hoặc chưng cách thủy khoảng 10 phút, để nguội.

Nước lèo ăn với bún

Cà chua cắt múi cam, khóm cắt lát mỏng. Xào cà chua, khóm, nấm rơm và sả đập dập lấy mùi thơm nêm nếm gia vị. Sau đó cho hỗn hợp đã xào thấm vào nồi nước dùng đã đun sôi. Nêm nếm lại gia vị theo khẩu vị. Nước dùng có thể ninh từ mía, hoặc các loại rau củ, quả.

Bún chay có vị chua của cà chua và khóm, mùi thơm của rong biển sẽ tao thành một hương vị rất đặc trưng. Vị ngọt thanh từ nước củ quả, ăn kèm với rau sống rau thơm các loại.

Rau thái nhuyễn

Tô bún thơm ngon

Nguyên Hân
Theo Giác Ngộ

Món chay với mít

Mít non là một trái cây quen thuộc trong ẩm thực của người miền Trung và mít rất cũng rất quen thuộc với bếp nhà chùa nhưng với những bếp gia đình nhất là ở thành phố món mít thường vẫn còn xa lạ.

Mít có thể chế biến rất nhiều món chay ngon, như là canh, gỏi, mít kho… Sau đây, xin giới thiệu hai món chay làm từ mít non là gỏi mít và mít kho sả ớt.

Gỏi mít là đây 

Gỏi mít

Nguyên liệu: mít non, mè, đậu phụng, phù chúc lá, hoặc đậu khuôn, rau răm, rau quế, pa-rô, kiệu, ớt, chanh, đường muối, bột canh chay.

Cách làm:
- Mít gọt vỏ, chẻ mít làm 4, hoặc làm 6 xắt lát mỏng cho vào nồi hấp
- Mè, đậu phụng rang xay nhỏ
- Phù chúc lá chiên vàng. Đậu khuôn cắt lát mỏng chiên vàng sau đó cắt sợi. Một ít kiệu xắt sợi.
- Giã nhuyễn kiệu, ớt, đường, muối, bột canh chay vắt một ít chanh (chanh có thể gia giảm theo khẩu vị).
- Pa-rô xào dầu cho vàng.
- Mít sau khi hấp mềm trộn đều hỗn hợp kiệu và gia vị, cho mè đậu phụng, phù chúc, đậu khuôn, dầu phi pa-rô, rau răm, rau quế trộn đều nêm nếm vừa ăn.

Bánh tráng nướng ăn kèm gỏi mít

Món mít trộn ăn kèm với bánh tráng nướng hoặc bánh phồng. Món gỏi mít có vị mặn chua ngọt, mùi thơm và vị béo của mè, đậu phụng rang. Gỏi mít có thể dùng làm món khai vị.

Mít kho
Nguyên liệu: Mít non, xả, bột cari hoặc bột nghệ, nước dừa xiêm, gia vị
Cách làm:
- Mít cắt lát dày khoảng 1cm, chiên vàng
- Sả bằm nhuyễn xào với dâu cho vàng thơm, cho bột cari (hoặc bột nghệ) vào, xong cho nước dừa xiêm vào nêm nếm gia vị vừa ăn, cho mít đã chiên vàng vào, nhỏ lửa cho mít thấm mềm là được.

Mít kho chay ăn ngon cơm dữ lắm, nên bạn đừng ngại ăn chay nhé 

Món mít kho dùng với cơm nóng rất ngon.

Nguyên Hân
Theo Giác Ngộ

Dăm bông chân nấm đông cô

Tháng 4 là tháng mà Phật tử tại gia thường ăn chay cả tháng. Giác Ngộ Online xin được giới thiệu món dăm bông chân nấm đông cô (người miền Bắc gọi là ruốc). Món này tương đối dễ làm nhưng hơi công phu, có thể làm để sử dụng trong nhiều ngày. 

Nguyên liệu: Chân nấm đông cô khô, gừng, mè (vừng), lá chanh.

Chân nấm đông cô

Cách làm

Chân nấm ngâm nở rửa sạch. Luộc với gừng gọt vỏ, giã nhuyễn, luộc sôi khoảng 10 phút, để nguội, vắt ráo nước.

Ướp gia vị, muối, đường, bột canh chay khoảng 30 phút cho gia vị thấm đều. Cho một ít dầu ăn. Rang trên lửa vừa đợi chân hơi săn khô, tắt lửa xong giã, xé sợi. Hoặc cho vào máy xay.

Sau đó rang lại trên lửa vừa cho khô đều, hoặc có thể cho vào lò nướng sấy khô (Rang khô thì bảo quản được lâu, nếu dùng ngay không phải rang khô kỹ sẽ mềm và ngon hơn).

Thành phẩm ngon, để dành ăn lâu ngày

Mè rang vàng, lá chanh xắt nhuyễn khi nấm gần khô đều cho mè và lá chanh vào trộn đều tắt lửa.

Món dăm bông chân nấm có thể làm nhiều và bảo quản trong tủ lạnh sẽ giữ được lâu và có thể sử dụng trong nhiều ngày.
Món này dùng với cơm trắng, cơm gạo lứt, xôi và bánh mì đều được.

Nguyên Hân
Theo Giác Ngộ

10 món chay ngon và đẹp mắt sẽ thay đổi suy nghĩ của bạn về ăn chay

Những món chay vừa ngon miệng vừa đẹp mắt sẽ thay đổi suy nghĩ của bạn về đồ chay.

Nói đến ăn chay, nhiều người mường tượng tới một thực đơn rất nghèo nàn và khô khan; hoặc một bữa chay giả mặn đầy thịt đầy cá cố làm cho thật giống. Hoàn toàn không cần thế. Món chay tự bản thân nó có cái ngon và hương vị riêng.

Những món ăn chay thanh tịnh không chỉ giúp thay đổi khẩu vị, mà còn rất tốt cho sức khỏe. Dưới đây là 10 món chay rất dễ làm để bạn đổi vị cho người thân trong gia đình.

1. Chả đậu xanh

Để chế biến chả đậu xanh, trước hết đậu xanh phải ngâm nước, đãi sạch vỏ rồi cho vào nấu chín. Khi đậu đã chín, cho đậu vào cối và dùng chầy tán nhuyễn đậu, chế thêm chút nước để đậu không bị rời rồi đổ ra tô cho bột sắn khô vào đánh, trộn đều tay, cho chút muối, chút đường, tiêu và hành lá thái nhỏ vào trộn đều. Rồi nặn thành những miếng nhỏ mỏng chiên vàng.


2. Lẩu nấm

Lẩu được xem là món ăn phù hợp sở thích của nhiều người bởi món luôn dùng nóng, lại rất dễ ăn. Món lẩu chay thường dùng những nguyên liệu từ các loại nấm: nấm kim châm, nấm đùi gà, nấm rơm, nấm bào ngư… cùng các loại rau củ quả xanh tươi như: cà rốt, cải thảo, bông hẹ…


3. Tempura – củ quả chiên giòn

Tempura là một món ẩm thực của Nhật Bản gồm các loại hải sản, rau, củ tẩm bột mì rán ngập trong dầu. Tuy nhiên để biến tempura thành món chay thì bạn dùng các loại rau củ quả tẩm bột mì hòa chung với nước, vừng trắng rồi chiên giòn. Củ quả để chiên tempura rất đa dạng, bạn có thể chiên dứa thái mỏng, hoa lơ, ngô non, thậm chí cá tím thái khoanh tròn mỏng chiên cũng thơm ngon vô cùng. Món củ quả chiên giòn này dùng với magi.


4. Cháo nấm

Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, giúp giải độc và bảo vệ tế bào gan nữa. Một món ăn bổ dưỡng từ nấm bạn có thể làm cho gia đình mình là món cháo nấm chay.


5. Cà tím xào

Món cà tím xào với những miếng cà ngọt thơm mùi hành tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt cho món ăn này. Cà tím xào vừa mềm vừa ngọt sẽ cho bạn một bữa ăn vừa nhẹ bụng vừa ngon.


6. Canh chua chay

Nguyên liệu nấu món cay chua chay vô cùng đơn giản, bạn chỉ cần: miếng đậu non trắng, nửa quả dứa, măng tươi, cà chua, me hay sấu, giá đỗ, ớt, nấm rơm và mùi tầu. Món canh chay này có mùi vị chua, ngọt, thơm, rất đậm đà nhưng rất dễ nấu và rất dễ ăn.


7. Cà ri chay

Cà ri là một món ăn quen thuộc trong những dịp cúng, giỗ chạp của người dân Nam Bộ. Mùa chay không thể dùng gà, vịt, dê, bò… bạn có thể nấu chay hoàn toàn khi dùng khoai lang, khoai môn, sả cây cắt khúc, đậu rán, nấm rơm, nước cốt dừa, bột cà ri… Chắc chắn bạn sẽ vẫn có món cà ri ngon lành ăn cùng bánh mì hoặc bú


8. Đậu hũ kho tương

Các món kho rất phổ biến trong những bữa cơm chay bởi có vị mằn mặn, thơm từ các nguyên liệu như đậu hủ, tương hạt… Bạn có thể dùng cùng với cơm trắng ăn rất ngon miệng.


9. Cơm chiên Dương Châu

Dù ăn chay, hay ăn mặn, món cơm sẽ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt. Thường món cơm chay ngoài việc dùng đậu hũ, người ta còn ăn thêm các loại như đậu Hà Lan, nấm rơm, củ cà rốt… Chính sự hòa trộn giữa những nguyên liệu này sẽ giúp cho bạn khi thưởng thức món ăn sẽ không có cảm giác ngán.


10. Xôi dừa

Đối với người ăn mặn, xôi được xem là món ăn thông dụng, được dùng trong các bữa ăn sáng, trưa, hay chập tối… Tuy nhiên, ngày nay, người ăn chay có thể đổi món cho mình để tìm những món ăn đa dạng hơn và xôi dừa ngào cũng sẽ góp phần làm cho thực đơn ăn chay thêm phong phú cho mỗi người.

Món có hương thơm đặc trưng với những hạt nếp mềm, dẻo hòa quyện cùng hương thơm từ các nguyên liệu của dừa ngào… sẽ mang đến cho bạn một cảm giác thật ngon miệng.


Theo Phật Tử Việt Nam

Technology