October 12, 2013

Ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu...nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và "quyết tâm" ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Lâu không gặp tôi ở mấy đám tiệc tùng, nhảy nhót, ca hát bạn bè hỏi thăm tôi đi đâu mà vắng bóng lâu vậy? Tôi trả lời: "Đi chùa, bây giờ tôi tu rồi!".

Nghe tôi trả lời như vậy bạn bè thất vọng kêu trời "Đời sống ba vạn sáu ngàn ngày có là mấy, sao đang làm ăn thành công như vậy mà lại bỏ ngang, lo tu?". Mấy người trong bàn tiệc bắt đầu xoay qua đề tài "Tu và Đạo Phật". Người thì bàn bây giờ còn trẻ để hưởng cho hết cuộc đời trước, khi nào già rồi hãy tu. Người thì lý luận sống là tranh đấu, tu là bi quan yếm thế. Có người tiếc rẻ cho mấy người tu, được sống ở Mỹ có nhiều thịt cá không ăn cho khoái khẩu mà ăn chay, kiếp sau sinh ra ở Ấn Độ hay Phi châu không có thịt cá để ăn, sẽ hối tiếc! Hồi trước nếu nghe người nào nói trái ý, xúc phạm đến tôn giáo của tôi là tôi nhào vô cãi lẫy, hùng biện, tranh luận, phải trái hơn thua, có khi nổi nóng tôi nói nặng làm mất bạn bè vì những chuyện không đâu. Nay nhờ đi chùa và nghiền ngẫm kinh sách tôi không phản ứng ngay, mà trầm tĩnh quan sát người ta thảo thuận. Tôi thấy người nào cũng giành phần đúng về mình, người nào không đồng ý với mình thì cho người đó dốt, không hiểu vấn đề... Thấy mấy ông bạn bàn về triết lý cao siêu của Đạo Phật tôi nghĩ đến chuyện những người mù xem voi.

Không riêng gì những người không đi chùa nên không hiểu đạo, mà ngay cả người đi chùa thường xuyên cũng hiểu đạo sai lầm. Phần đông người đi chùa là ngững người đàn bà lớn tuổi, nhiều bà cầm nhang lạy tứ phương rất mềm dẻo, thiện nghệ. Nhưng họ đi chùa không mong gì hơn là để "được phước kiếp này và kiếp sau". Kiếp này được Trời Phật phù hộ cho có được đời sống an lành, con cái ăn học nên người, gia đình yên vui hạnh phúc. Kiếp sau được sinh ra ở cõi Trời, hay có làm người thì được sinh ra trong gia đình khá giả hơn...

Rất nhiều người đi chùa, cúng dường nhiều chỉ để cầu xin Trời Phật phù hộ cho mình, cho gia đình mình (ngã) có đời sống tốt đẹp hơn (tham). Đi chùa với tâm ý trao đổi tiền bạc với phước đức như vậy thì chẳng khác nào bỏ tiền ra "hối lộ" Trời Phật, bỏ tiền ra "mua" phước đức. Đi chùa như vậy, có đi suốt đời cũng không giúp ích gì cho mình và cho người bao nhiêu. Có người nói " Bữa nay tôi ăn chay, nếu không tôi cào nhà nó rồi". Ca dao mình cũng có nhiều câu châm biếm mấy người đi chùa mà tâm không tu là "Miệng tụng Nam mô mà bụng chứa một bồ dao găm".

Các bà chị của tôi rất thích đi hành hương, nhất cử mà lưỡng tiện, vừa du ngoạn cảnh lạ đường xa, vừa được thăm viếng, lễ bái nhiều chùa được nhiều phước đức. Có lúc các chị không thích đi hành hương nữa, tôi hỏi tại sao thì các chị cho biết, không thích đi từ hồi nghe thầy Thanh Từ giảng. Thầy nói các bà đi chùa cúng có mấy trái chuối, mấy trái cam mà cầu xin Phật cho nhiều thứ , xin cho mình, cho con mình rồi cho cháu mình nữa. Phật dạy tu thì không tu mà chỉ muốn cầu xin, nếu ai xin cũng được Phật cho như ý thì trên đời này đâu có ai khổ, ai nghèo? Các chị nghe thầy Thanh Từ nói Phật không phải là thần linh, có bùa phép ban cho Phật tử điều này điều nọ, các chị chán quá ở nhà luôn.

Không riêng gì người bình dân ít học mà đôi khi ngay cả người trí thức phụ trách việc giảng dạy Phật pháp cũng có người không hiểu đạo. Một cư sĩ kia có bằng cấp cao nên rất được quý trọng, trọng dụng trong hàng lãnh đạo Phật giáo. Ông được mời giảng dạy đạo pháp và hướng dẫn Phật tử trong các lớp tu học. Một bữa kia một Phật tử có ý kiến, theo tôi bài giảng của ông không đúng ở điểm này , điểm nọ. Ông cư sĩ có vẻ khó chịu và từ đó giữ trong lòng "ác cảm" lâu dài với Phật tử này.

Sự thật là vậy, là ít người chịu khó suy ngẫm để thấu hiểu được rằng Phật bỏ cung vàng điện ngọc, bỏ cả vợ con chỉ vì thấy "Đời Là Bể Khổ". Phật vào rừng sâu, sống khổ hạnh chỉ để tìm cách Cứu Khổ. Và hầu hết kinh sách Phật được lưu truyền lại ngày nay là để dẫn dắt chúng ta con đường Thoát Khổ.

Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo huyền bí, không đặt niềm tin ở Thượng Đế và Phật không tự cho mình là con của Ngọc Hoàng, là Đấng Tạo Hóa toàn năng tạo ra vạn vật, có khả năng ban phước hay giáng họa cho ai. Luật Nhân Quả không phải do Ngài đặt ra, và Niết Bàn cũng không phải là nơi do Ngài tạo nên, do Ngài kiểm soát cho phép ai ra, ai vào.

Đạo Phật Là Một Con Đường Giải Thoát, Giác Ngộ. Phật là người đã tìm ra chân lý, tìm ra Con Đường đi đến sự giải thoát, an vui, tự tại (chấm dứt khổ đau). Con đường đó Phật giảng giải, chỉ vẽ dựa theo kinh nghiệm "Ngộ" mà Ngài đã chứng nghiệm được sau sáu năm khổ hạnh tu tập và 49 ngày nhập định dưới cây bồ đề. Sau thời gian tu tập này Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đạt đến Niết Bàn và Phật đã bình đẳng tuyên bố "Ta là Phật đã thàønh, các người là Phật sẽ thành nếu các người tu theo con đường (đạo) ta chỉ dạy ".

Theo Phật con người khổ là vì Tham Sân Si, Chấp và Ngã...

Tham là muốn chiếm đoạt vật gì làm của riêng của mình, có một muốn hai, có hai muốn bốn. Lòng tham thúc đẩy con người hành động, tạo nghiệp ác, gây khổ cho mình và cho người khác.

Sân là thù hận, oán ghét. Nó cũng bao gồm trạng thái thụ động như hờn mát, bất mãn, ác cảm, buồn phiền ngấm ngầm trong lòng.

Si là u mê, tăm tối, chạy theo vạn vật hão huyền, là vô minh không nhận ra chân tướng, bản chất chân thật của vạn vật.

Chấp là vướng mắc vào những cảm thọ, như khen chê, được mất, hơn thua...

Ngã là mình, những gì thuộc về mình, cái Tôi vị kỷ, kiêu mạn...

Thôi thì có trăm ngàn nguyên nhân làm mình khổ. Muốn chấm dứt khổ đau, được an lạc, tự tại, kinh Phật dạy muôn ngàn pháp môn. Đểà cho bớt rườm rà khó hiểu, tôi đơn giản hóa vấn đề, muốn tu theo Phật cho thân tâm được an lạc, một là chuyển hóa Tham Sân Si, hai là gạt bỏ Chấp và Ngã.

Con đường tu của tôi ngắn và gọn như vậy. Khi có một điều bất đắc ý xảy ra làm tôi buồn phiền đau khổ, bình tĩnh suy xét tôi thấy đúng như lời Phật dạy, căn nguyên khổ đó là do tham, sân, si, chấp và ngã đã huân tập, tiềm ẩn trong tôi từ kiếp nào mà ra. Cái chủng tử hung dữ, nóng nảy do cha mẹ di truyền lại đã sống khỏe mạnh trong tôi bấy lâu nay. Nay biết tu tập, với thời gian tôi sẽ cố gắng "bứng gốc" các chủng tử xấu đi, rồi tôi sẽ tưới tẩm những "chủng tử tốt" (từ bi, hỷ xả, bao dung) bằng những trận mưa Pháp, những chủng tử tốt này sẽ nảy mầm vươn lên.

Làm việc gì muốn có kết quả nhanh chóng mình cũng phải có phương pháp, phân tích và có kế hoạch đàng hoàng. Sau khi phân tích thấy được nguyên nhân nguồn cội khổ đau là tham sân si, chấp và ngã, bây giờ làm sao diệt tham sân si, chấp và ngã?

Muốn diệt Tam Độc tham sân si, thì phải giữ Thân Khẩu ý thanh tịnh, trong sạch. Trên lý thuyết thì không khó, nhưng trên thực tế tiêu diệt ba con rắn độc này là cả một cuộc chiến gay go với nội tâm, mà chính Phật cũng phải nhìn nhận "thắng một vạn quân dễ hơn chiến thắng chính mình".

Bản tính của người phàm phu là ăn miếng trả miếng, nhất định không thua ai. Người "biết tu" gặp nghịch cảnh phải nhịn nhục, nếu cứ chơi "xả láng" tới đâu hay tới đó, là tự biết mình đã "thua" trên mặt trận "tu tập". Nếu nhịn nhục là thân không làm điều ác, miệng không nói lời ác thì tôi cố gắng làm được, nhưng giữ tâm ý thanh tịnh, không giận hờn, buồn phiền, bất mãn, điều này tôi thấy khó quá. Làm sao vui vẻ chấp nhận sự thiệt thòi về phần mình, làm sao chuyển hóa lấy khó khăn làm thú vị, lấy nghịch cảnh làm thắng duyên để đo lường sự tu tập của mình?

Kinh sách dạy, muốn tu chúng ta phải Học Kinh, và ứng dụng bát chính đạo. Có chính kiến (nhìn thấy đúng), có tư duy ( suy xét đúng), có tinh tấn (cố gắng trui luyện), nước chảy đá sẽ mòn, rồi có ngày tâm ta sẽ không còn vướng mắc, chướng ngại, phiền não.

Trong kinh , Phật dạy...vạn vật Vô Thường. Với thời gian vận vật đổi thay, không thường hằng bất biến, cho nên trong đời sống, chúng ta "nay lên voi, mai xuống chó", nay được yêu chiều, mai bị ruồng rẫy nên coi là sự thường. Đã thấu đáo lý Vô Thường thì dù cuộc đời có lúc lên hương như "diều gặp gió" chúng ta cũng không nên hả hê vui mừng đắc thắng, vì gió không bền lâu, lúc gió ngừng diều sẽ đâm đầu xuống đất, càng cao danh vọng, càng dày gian nan. Khi thành công cũng như lúc thất bại chúng ta phải cố giữ tâm thăng bằng như người làm xiệc đi trên sợi dây nhỏ. Dù đời nhiều cay đắng chúng ta cũng cố tự an ủi, đời người như một dòng sông, "sông có khúc, đời người có lúc", không nên nao núng thất vọng trước cảnh vật đổi sao dời.

Vạn vật đều Vô Ngã. Khi chấp nhận vạn vật vô ngã, không có tự tính (sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắùc) thì ý thức ích kỷ, vị kỷ, chấp ngã kiêu mạn, ý niệm về "Cái Tôi" vô cùng quan trọng sẽ tan biến.

Phật cũng dạy lý Duyên Sinh. Vạn vật do duyên họp mà thành. Đủ duyên thì vạn vật tồn tại, mất duyên thì vạn vật tiêu tan. Do nhân duyên tác hợp nên vạn vật chỉ là hư ảo (huyễn). Khi thấu được lý nhân duyên thì tâm mình sẽ rộng mở, dễ cảm thông, tha thứ, chấp nhận thế giới muôn sai, nghìn khác. Từ "cảm thông" trong ta sẽ phát khởi lòng từ bi bao la, dễ hỷ xả, tha thứ những lỗi lầm của người khác.

Tôi về thăm Việt Nam, mấy đứa trẻ ăn xin hay đeo theo xin tiền. Được tiền rồi chúng cũng không đi chỗ khác, cứ lẩn quẩn quanh tôi. Chờ lúc tôi sơ hở là tụi nó "chôm" mấy thứ lặt vặt như máy ảnh, kính đeo mắt, cây dù xếp...từ đó tôi có ác cảm với đám trẻ ăn xin này, thấy tụi nó kéo tới là tôi lo canh giữ cẩn thận, không còn tội nghiệp , thương xót như trước . Đấy là phản ứng tự nhiên của người mất của. Nhưng trầm tĩnh suy nghĩ kỹ tôi mới thấy tội nghiệp những đứa trẻ thơ vô tội này. Chẳng may chúng nó sinh ra trong một gia đình nghèo ở Việt Nam, thất học, đói rách, phải ăn xin, ăn trộm để kiếm sống. Nếu chúng nó được may mắn sinh ra trong một gia đình giàu có ở Mỹ, được cha mẹ gởi tới các nhà giữ trẻ có nhiều trò giải trí, dùng máy điện tử chơi game hứng thú thì chúng nó đâu thèm ăn cắp máy chụp hình, kính đeo mắt, và cây dù xếp để làm gì?

Cho nên trong vấn đề tu tập, Thiền Định là một phương cách đưa con người đến giải thoát. Những giây phút yên lặng, suy nghĩ sâu sắc sẽ cho ta Thấy Được Cái Bản Chất Chân Thật Của Mọi Việc.

Nhận thức được bản thể chân thật đó, con người mới có thể phát khởi đại trí, đại bi, trải rộng tình thương vô bờ tới muôn người và muôn loài. Trong đời sống hằng ngày chúng ta bận rộn làm ăn sinh sống, không có nhiều thì giờ để ngồi thiền như những người xuấàt gia, nên Sư cô Thanh Lương khuyên chúng ta cố gắng Dừng Lại, cố giữ phản ứng chậm lại. Chỉ cần chậm lại một chút để có thì giờ suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ tránh được nhiều lỗi lầm đáng tiếc, gây phiền phức cho mình và những người chung quanh, nhờ đó cuộc sống của mình được tươi đẹp , thoải mái dễ chịu hơn.

Đối với đàn bà chuyện thường xảy ra là bà này nói xấu bà kia. Phản ứng tự nhiên khi bị người khác đặt điều nói xấu là mình nổi giận. Người "biết tu" sẽ không trả thù nói xấu lại và người tu giỏi sẽ không giữ trong lòng ác cảm, phiền muộn ai .

TU ĐỂ LÀM GÌ mà xem ra người tu có vẻ thiệt thòi, chịu đựng nhiều quá vậy?

Mục đích tối thượng của người tu theo Phật là đạt đến Niết Bàn.

Niết Bàn không phải là một nơi tốt đẹp như Thiên đàng của các tôn giáo khác, khi nào chết con người mới có thể tới Thiên đàng được. Niết Bàn trong đạo Phật không chiếm không gian, không là nơi chốn nào trong vũ trụ, mà là một đạo quả, một trạng thái bình yên tối thượng.

Ở ngay trong kiếp sống này nếu chúng ta không bị tham sân si, chấp và ngã điều khiển, tâm ta sẽ có được thanh tịnh, an lạc, đạt đến Niết Bàn.

Những danh từ Duyên Sinh, Vô Thường, Vô Ngã hình như Phật tử nào cũng hiểu vì nó là nền tảng giải thoát của Đạo Phật. Nhưng hiểu là một chuyện mà có ứng dụng những điều hiểu biết này vô đời sống của mình để có được đời sống an lành yên vui hay không là chuyện khác.

Một bạn đạo của tôi luôn chạy theo Sư cô Thanh Lương, cô giảng ở đâu là có mặt chị ở đó. Chị đọc kinh nhiều đến nỗi thuộc làu cả "Chú Đại Bi". Chị đang vận động với bạn bè mua cho Sư cô Thanh Lương một căn nhà làm chùa. Chị mê nghe Sư cô giảng lắm. Tôi hỏi thăm, chị A còn trong hội của chị không? Hỏi câu này là bắt trúng tần số. Tôi chỉ hỏi một câu ngắn như vậy mà chị trả lời tôi tới nửa đêm, tuông ra bao nỗi hằn học, oán hận, căm thù. Tôi an ủi, thôi chị đi chùa nhiều, nên "hỷ xả". Chị ấy trả lời: "Cái hạng người đó không đáng cho tôi hỷ xả!".

Một bà khác đi chùa, công quả chuyên cần từ ngày qua Mỹ đến nay là mấy chục năm, nên được giử chức Phó Hội trưởng trong Ban Chấp hành của một chùa trong vùng. Bà mẹ chồng của chị đang hấp hối ở VN, tha thiết mong mỏi tất cả con cháu , dâu rể điện thọại về một lần chót trước khi nhắm mắt ra đi. Măïc cho em chồng khóc lóc năn nỉ, chị này nhật định không gọi về, nhất định trả thù bà mẹ chồng cho đến giờ phút chót cuộc đời bà.

Đi chùa mà giữ tâm địa ác như vầy thì đi để làm gì?

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu...nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và "quyết tâm" ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Nên Từ Bi Hỷ Xả. Chỉ một chữ "xả" thôi , nếu thực hiện được là chúng ta cũng đến gần Niết Bàn rồi. Đi chùa, tham gia Phật sự là điều tốt, nhưng đó là bước đầu, nếu chúng ta bước xuống thuyền rồi đứng đó, không tự chèo thuyền đi , không ứng dụng những điều học hỏi ở kinh sách, ở chùa vô đời sống hằng ngày thì mãi mãi không bao giờ có thể đến được bến bờ giải thoát an lạc bên kia.

Thầy Thanh Từ giảng, căn phòng dù tăm tối đến đâu, bật đèn lên căn phòng cũng sáng. Chúng ta đứng ở cửa nhìn ra ngoài sẽ thấy đen tối, xoay đầu vô thì thấy sáng. Giữa tối và sáng chẳng cách nhau bao xa. Chỉ cần biết xoay đầu. Nhìn ra ngoài là bến mê, xoay đầu lại là bờ giác. Mê và giác chỉ có một cái xoay đầu. Tu dễ như vậy. Tu là hồi đầu, là xoay đầu lại. Từ bao lâu chúng ta mê nên đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh chúng ta trở về sẽ hết khổ đau. Nếu chúng ta thả trôi theo giòng tăm tối thì tối mãi, biết xoay ngược lại tìm về ánh sáng thì sẽ được sáng. Một đứa con đi hoang, càng đi xa nhà càng khổ, khi biết lỗi lầm quay về với mẹ cha thì được sống trong gia đình hạnh phúc.

Hiểu như vậy thì tu không khó khăn gì cả, không cần ép xác khổ hạnh, tu luyện lâu dài hay học cao hiểu rộng, cũng không cần xuất gia. Phật tức tâm, tâm tức Phật, tu tại gia cũng được. Chỉ cần cố chuyển hóa tham sân si , chấp và ngã.

Vạn vật đồng nhất ở bản thể, khi chúng ta dẹp được cái Tôi vị kỷ, ranh giới giữa ta và người sẽ tan biến. Từ đó lòng Từ Bi Hỷ Xả sẽ bừng nở dâng tràn, đưa ta đến bến bờ giải thoát an lạc tự tại.

Tu là sửa đổi cho được tốt hơn, là dừng lại, là chuyển hóa cái tri thức sai lầm về thực tại. Vì tri thức sai lầm, chúng ta phát sinh tham, sân, si rồi hành động tạo nghiệp. Có chính kiến chúng ta sẽ thay đổi thái độ với vạn vật, nhờ đó thế giới trở nên an lành, vui tươi , hạnh phúc hơn.

Khi tâm ta không còn bị tham sân si điều khiển, khi tâm ta không còn vướng mắc với những cảm thọ chấp, ngã, chúng ta sẽ đạt đến Niết Bàn. Đó là một trạng thái yên bình tối thượng, thanh tịnh, tự tại, giải thoát ở kiếp này, nhờ đó Nghiệp Lực chấm dứt, không còn sức lôi dẫn chúng ta luân hồi trong lục đạo ở kiếp sau.

Đây là mục tiêu tối thượng của việc Tu Hành theo Phật.

Theo Phật giáo nguyên thủy

Nguồn: http://www.nguoiduatin.vn/ung-dung-loi-phat-day-vao-doi-song-hang-ngay-a106478.html

September 1, 2013

Phước hay tội?

GN - Người làm việc thiện ý thức rất rõ là mình đang giúp đỡ cho con người...

HỎI: Tôi muốn giúp cho một số bà con, cụ thể là giúp đỡ tài chính để trang bị ngư cụ cho họ có phương tiện làm ăn ổn định, lâu dài. Là những Phật tử thuần thành, tôi thấm nhuần giáo lý Đức Phật đã dạy là tự mình không sát sanh, không xúi bảo hay tạo điều kiện để người khác sát sanh… Với cách giúp như trên có phải tôi đang tạo điều kiện để người khác sát sanh? Việc giúp người thông thường thì được phước nhưng trong trường hợp này chẳng biết tôi có bị tội (cộng nghiệp sát hại) không? 

(CHÁNH TÂM, tanlochappy@yahoo.com.vn)

ĐÁP: Bạn Chánh Tâm thân mến!

Hẳn bạn cũng từng nghe câu nói, giúp người nên cho họ cần câu chứ không nên cho con cá. Có nghĩa là, cho người cách thức hay phương tiện làm ăn (cần câu) để người ta tự làm lấy mới chính là sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả nhất. Bởi nếu chúng ta cho thực phẩm và các vật dụng sinh hoạt (con cá) thì chỉ giải quyết được vấn đề thiếu hụt trước mắt mà thôi. 

Muốn tạo sinh kế lâu dài và ổn định, tốt nhất là nên giúp cho họ cái phương tiện làm ăn. Nếu họ buôn bán nhỏ, ta cho vốn; nếu họ làm nông, ta cho cây giống và nông cụ; nếu họ làm nghề biển, chắc chắn ta phải cho họ ngư cụ v.v…

Cho nên, khi ta trợ duyên tiền bạc cho ngư dân để họ mua sắm ngư cụ làm ăn là điều vô cùng hợp lý. Bởi cũng số tiền ấy, nếu mua thực phẩm thì sớm muộn gì cũng ăn hết, mà khó khăn thì vẫn còn.

Điều quan trọng nhất ở đây là không nên đánh đồng hai vấn đề “giúp đỡ ngư dân có phương tiện làm ăn” và “xúi bảo, tạo điều kiện cho người khác sát sanh” lại với nhau vì bản chất chúng khác xa nhau. Dĩ nhiên mỗi người đều có một nghề để làm ăn và phải mang một hành nghiệp riêng. Người làm nghề buôn bán, làm nghề nông hay nghề biển… đều có nghiệp riêng của họ. Nên không vì nghiệp riêng của họ mà chúng ta quay lưng khi họ gặp khó khăn.

Người làm việc thiện ý thức rất rõ là mình đang giúp đỡ cho con người, cho đồng loại để họ vơi bớt khổ đau, khốn khó. Còn người được giúp đỡ vì sinh kế mà tạo nghiệp là nghiệp của riêng họ. Hai vấn đề này khác biệt nhau, không nên lẫn lộn. Ví như nói rằng, các bác sĩ tận tình cứu chữa cho tên cướp khét tiếng bị bệnh trong trại giam là tiếp tay với tội ác thì rất không ổn. Bởi lẽ, bác sĩ thì phải cứu người bệnh, còn xét xử tên cướp là việc của người khác.

Về phương diện cộng nghiệp, xét cho cùng thì cuộc sống này là sự tương quan tương duyên nên cộng nghiệp sát hại thì ai cũng có, chỉ khác biệt là nhiều hay ít mà thôi. Đơn cử như có người không hề sát sinh, ăn chay trường nhưng không hẳn người này không có cộng nghiệp giết hại. 

Do vậy, nếu bạn có điều kiện muốn giúp đỡ ngư dân hay bất kỳ ai có phương tiện làm ăn sinh sống thì nên làm, giúp người thì được phước. Tuy vậy, bên cạnh sự giúp đỡ đó, bạn cũng tùy duyên lựa lời khuyên nhủ họ, nếu có thể thì tìm một sinh kế khác bớt tạo nghiệp sát hơn.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN
(tuvangiacngo@yahoo.com)

Nguồn: Giacngo.vn

August 15, 2013

Tu tại gia

Sau khi quy y Tam bảo và phát nguyện thọ trì năm giới là đã bắt đầu lộ trình tu tập tại gia.

HỎI: Tôi yêu thích Phật pháp, muốn tu học và được biết có nhiều người Phật tử tu tại gia. Vậy xin hỏi tu tại gia thì như thế nào? Hiện mỗi ngày tôi không đọc kinh nhưng đều có niệm Phật, mỗi tháng chỉ mới ăn chay được ba ngày và mấy ngày lễ Phật, vậy có được coi là tu không? Trong quá khứ tôi có mắc phải nhiều sai lầm. Bây giờ tôi muốn quay đầu hướng thiện thì phải làm như thế nào? Có quá muộn không?

(JENNY NGUYỄN, xuxudontcry300495@gmail.com)

ĐÁP:
Bạn Jenny Nguyễn thân mến!

Tu có nghĩa là sửa, tại gia có nghĩa là ở nhà. Tu tại gia là tu sửa bản thân ngay tại nhà của mình. Người cư sĩ Phật tử sống đời thế tục với các trách nhiệm gia đình và xã hội nhưng nguyện sửa đổi, chuyển hóa tâm tánh, ngôn ngữ, hành vi của mình theo lời Phật dạy chính là tu tại gia.

Tịnh Danh cư sĩ. 

Nói chung, người Phật tử sau khi quy y Tam bảo và phát nguyện thọ trì năm giới là đã bắt đầu lộ trình tu tập tại gia. Thời khắc quy y đánh dấu sự thay đổi rất rõ ràng trong nhận thức và hành động, mọi việc của người Phật tử lúc này đều nương tựa vào Tam bảo, theo sự soi sáng của Phật-Pháp-Tăng. Sau đó, người Phật tử trau dồi nhân cách đạo đức bằng việc giữ năm giới, phát tâm ăn chay (một tháng ít nhất là hai ngày), làm các việc thiện trong khả năng có thể để vun bồi phước đức. Quan trọng hơn là tìm học giáo lý, tin hiểu đúng lời Phật dạy rồi ứng dụng trong đời sống thực tiễn hàng ngày. Sống đạo đức (có giới), tâm luôn an tịnh thảnh thơi (có định), sáng suốt không mê lầm (có tuệ) là những phẩm hạnh căn bản mà người tu tại gia luôn hướng đến và thành tựu.

Ngoài ra, cụm từ tu tại gia còn để chỉ cho một số ít cư sĩ phát tâm tu tập tinh chuyên hơn các Phật tử bình thường. Dù vẫn ở nhà, nhưng những cư sĩ này thường phát tâm ăn chay trường, khá nhiều vị thọ giới Bồ-tát, công phu tu niệm và lễ bái với thời khóa y như người xuất gia vậy.

Mỗi ngày bạn đã biết niệm Phật, mỗi tháng có mấy ngày ăn chay và lễ Phật, như vậy có thể gọi là tu rồi. Vì như đã nói, tu chính là sửa. Sửa được càng nhiều những hạn chế của bản thân thì sự tu của mình càng cao và phước đức nhờ đó cũng tăng tiến hơn lên.

Ai trong quá khứ cũng đều có sai lầm. Muốn hướng thiện, trước hết phải nhận ra đó là lầm lỗi rồi thành tâm sám hối, ăn năn về việc đã qua, nguyện không tái phạm nữa. Tiếp đến là nương theo Phật pháp để sống thiện lành. Nguyện nương tựa Tam bảo, sống và tu học đúng với phẩm hạnh của người cư sĩ Phật tử thuần thành chính là sự quay đầu hướng thiện đúng đắn nhất.

Quay đầu là bờ! Biết quay đầu hướng thiện vào bất cứ thời khắc nào trong đời cũng là sớm, không hề muộn. Bởi đời sống luôn được tiếp nối, cuộc đời chúng ta chỉ là một mắt xích trong chuỗi tiếp nối ấy mà thôi. Do vậy, không hề có chuyện “quá muộn” trong việc tỉnh thức để quay đầu hướng thiện.

Chúc bạn tinh tấn!
Theo Giác Ngộ

Tại sao chúng ta phải ngồi thiền?

Muốn ngồi thiền, trước chúng ta phải biết lý thuyết, sau mới thực hành được. Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Phật dạy trong bốn oai nghi chúng ta đều tu được hết. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm và ngồi. Tuy nhiên trong số bốn oai nghi đó, các Thiền sư nói chỉ có ngồi là thù thắng hơn cả. 

Tại sao? Vì lúc bình thường, tâm nghĩ suy hơn thua, phải quấy của chúng ta dấy khởi liên tục. Chẳng những nó liên tục trong lúc bình thường, mà ngay cả khi sắp vào giấc ngủ, mình muốn không mà nó vẫn cứ nghĩ lung tung. Chừng nào mệt mỏi quá nó mới chịu nghỉ cho mình ngủ. Như vậy lâu nay chúng ta bị các thứ vọng tâm đó che đậy lôi kéo mãi. 


Phật dạy tất cả chúng sanh luân hồi sanh tử là do nghiệp dẫn, mà nghiệp từ đâu ra? Từ thân, khẩu, ý. Tuy nói ba nghiệp nhưng thật tình ý nghiệp là chủ. Nếu ý nghĩ tốt thì thân làm tốt, miệng nói tốt; ý nghĩ xấu thì thân làm xấu, miệng nói xấu. Nên ý là chủ động. Nếu ý lặng thì nghiệp cũng theo đó mà dứt. 

Tất cả phân biệt hơn thua phải quấy đều từ ý phát sanh. Ý nghĩ tốt, ý nghĩ xấu, ý nghĩ phải, ý nghĩ quấy v. v… Lâu nay chúng ta mê lầm cho ý đó là tâm mình và để cho nó chỉ huy, dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử. Chừng nào lặng những thứ suy nghĩ ấy, ta mới nhận ra mình vẫn nghe biết phân biệt rõ ràng mà không có sự can thiệp của ý. Đây chính là cái biết chân thật hiện tiền, sẵn có của mình. Nhưng vì bình thường chúng ta chạy theo vọng tâm nên quên mất nó. Cái biết này không tạo nghiệp, không tạo nghiệp thì làm sao luân hồi

Cho nên tu là để giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì phải dừng hết các nghiệp, trước nhất là ý nghiệp, vì ý chủ động. Vì vậy mục đích chúng ta ngồi thiền là để cho ý lặng. Ý lặng rồi thì cái hằng tri hằng giác hiện tiền, chớ không phải mất mình. Tâm chân thật ấy không tướng, không động. Còn ý do duyên theo bóng dáng của ngoại cảnh như người vật mà có, nên nó lăng xăng lộn xộn hoài, rồi dẫn mình đi tạo nghiệp nữa. 

Trọng tâm tu của chúng ta là để trở về với cái chân thật của mình. Nhà thiền nói chúng ta như người cỡi trâu đi tìm trâu hay cõng Phật đi cầu Phật, cứ cầu Phật ở ngoài mà quên đi ông Phật thật mình đang có. Đó là cái lầm đáng thương. 

Dưới con mắt nhà Phật, chúng ta không phải tìm Phật ở đâu, mà chính tâm hằng tri hằng giác của mình là tâm Phật. Nhưng tâm đó hiện giờ đang bị những thứ nghĩ suy, phân biệt, hơn thua, phải quấy ngăn che liên tục. Cho nên chúng ta phải dẹp tâm lăng xăng đó để tâm thật hiện ra. Cũng như mặt trăng sáng trên hư không bị áng mây đen che nên tối. Nếu nhiều áng mây liên tục che như vậy thì chúng ta không thể nào thấy mặt trăng được. Ta không thấy mặt trăng, chớ không phải không có mặt trăng. Cũng như ta không thấy được Phật của mình, chớ không phải mình không có Phật. 

Toạ thiền chính là để dừng tâm lăng xăng ấy lại. Lâu nay nó làm chủ mình, bây giờ ta giành quyền làm chủ lại. Không chạy theo nó nữa thì nó phải dừng. Chúng ta làm chủ được ý niệm lăng xăng đó là chúng ta làm chủ được nghiệp. Ngược lại, nếu để nó làm chủ mình thì khi nhắm mắt nó dẫn mình đi đâu mình cũng phải chạy theo nó, không cưỡng lại được. 

Vì vậy ý nghĩa của ngồi thiền rất quan trọng. Ngồi thiền để làm Phật chớ không phải ngồi thiền để chơi, hay ngồi thiền theo dưỡng sanh cho khỏe mạnh. Ngồi thiền là từng bước dừng nhân tạo nghiệp. Nhân tạo nghiệp sạch thì nghiệp sạch. Nghiệp sạch thì giải thoát sanh tử. Khi đó cái hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Cái đó không bị nghiệp dẫn nên nó giải thoát sanh tử. Sống được với cái đó thì chúng ta không còn khổ trong luân hồi nữa. Đó là chỗ cứu kính của việc tu tập tọa thiền. 

Chúng ta thường xem người điên là những người đáng thương, nhưng không ngờ mình lại giống hệt người điên. Bởi vì những chuyện đâu đâu năm trên năm dưới, cứ lảm nhảm trong đầu hoài. Người điên nói ra miệng, còn mình thì nói thầm thầm bên trong. Hết chuyện này tới chuyện kia, chuyện gì mình cũng nghĩ được, cũng nhớ được. Cứ như vậy mà lảm nhảm suốt ngày, không yên được một phút nào. Nghĩ nhiều, suy tính nhiều thì nặng đầu, như vậy tự mình làm khổ mình, chớ có ai vô đó đâu. 

Bây giờ chúng ta chưa dừng được hoàn toàn những thứ nghĩ tạp nhạp ấy, nhưng nếu làm chủ được phần nào, đầu mình nhẹ chừng đó. Người suy nghĩ nhiều thì có nhiều chuyện, có khi những chuyện không đáng nghĩ vẫn cứ nghĩ luẩn quẩn mãi, đến chừng có chuyện cần phải nghĩ thì nghĩ không ra. Con người thường kỳ lạ như vậy. 

Chỉ khi nào những thứ nghĩ lộn xộn dừng lại, tâm thanh thản thì trí tuệ mới sáng, chừng đó cần nghĩ là ta nghĩ được ngay. Cho nên nhiều người nói “Con có lỗi khi ngồi thiền thường giải quyết những vấn đề mà ở ngoài chưa giải quyết được”. Vì giải quyết được nên cứ ngồi đó giải quyết hoài, thành ra quên tu. Đó là một lẽ thật. Tại vì khi ngồi thiền, tâm hơi yên một chút, bỗng nhớ lại vấn đề trước kia mình bế tắc, bây giờ tự nhiên sáng ra, thấy rất rõ. Thấy hay quá, nên mình lo giải quyết mà quên mất mục đích chính của mình là ngồi cho tâm yên. 

Như vậy để thấy rằng mục đích tu của chúng ta là để tâm được tĩnh lặng. Tâm được tĩnh lặng thì trí sáng. Như nước ở dưới hồ đục, chúng ta múc đổ vào lu. Sau một thời gian từ sáng đến chiều, nước lóng lại trở nên trong. Nước trong không phải chỉ do mình lóng, mà bản chất của nước là trong. Nó đục là vì lẫn những cặn bã li ti. Cặn dừng lại, lóng xuống thì nước trong trở lại. Mặt nước đục thì cảnh không hiện được. Mặt nước trong mới hay hiện rõ tất cả cảnh bên ngoài. Nước trong tức là sáng, nước đục tức là tối. 

Chúng ta ngồi thiền là để lóng những cặn bã trong tâm xuống. Cặn bã lặng rồi thì tâm an. Tâm an thì trí sáng. Đó là kết quả gần nhất của việc ngồi thiền. Còn kết quả xa, kết quả cuối cùng là giải thoát sanh tử. Người tu Phật mà không chịu ngồi thiền là một thiệt thòi lớn. Bởi vì tâm lăng xăng không yên thì nghiệp dẫn hoài. Nghiệp dẫn thì phải trầm luân sanh tử không có ngày cùng. 

Người tu thiền chẳng những tâm được yên, trí sáng mà cơ thể lại tốt nữa. Cuộc sống lúc nào cũng vui tươi, không buồn không khổ. Thường mỗi khi chúng ta nghĩ tới người mình ghét thì mặt cau lại, nghĩ tới người mình giận thì mặt đỏ lên, nghĩ tới người mình thương thì tự nhiên muốn rơi nước mắt v. v… Cứ như vậy nên cả ngày gương mặt chúng ta thay đổi không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi không nghĩ gì hết thì gương mặt mình mới bình thản, an nhiên, tươi tỉnh. Đó là lợi ích cụ thể, gần nhất của người tu thiền. 

Tâm đã an thì tự nhiên thân ít bệnh. Người có mối sầu lo trong tâm, thân rất dễ sanh bệnh. Bệnh sầu lo các bác sĩ sợ lắm, vì dù có thuốc hay cũng không trị nổi. Chỉ biết tu thì sầu lo mới giảm, mới dứt được. Đó là một lẽ thật. Hiểu như vậy mới thấy giá trị của việc ngồi thiền. Người không hiểu thường hay phê bình: “Làm gì mà ngồi lim dim hoài!". Có nhiều người chỉ trích rằng, tôi dạy Tăng Ni, Phật tử không làm gì hết, cứ ngồi lim dim lim dim suốt ngày thật vô ích. Người nhìn cạn thấy ngồi thế như vô ích, nhưng sự thật đó là việc làm hết sức quan trọng. 

Chúng ta suốt ngày hay suốt đời cứ chạy ra ngoài mà chưa bao giờ nhìn lại mình. Khi nhìn lại rồi mới thấy mình là cái gì, mới biết những niệm lăng xăng chợt sanh chợt diệt không phải thật mình. 

Lâu nay do mê lầm, chúng ta nhận đó là mình. Đến khi cái sanh diệt ấy dừng lại, ta mới nhận ra được còn có một cái tối quan trọng, không sanh không diệt, luôn tỉnh sáng và hiện hữu bên mình. Đây mới chính thật là mình. Nhận ra như thế là tìm lại được trân bảo nhà mình từ lâu đã quên mất. Một việc làm như vậy mà có thể nói vô ích được sao! 

Ở đây, tôi chỉ nói khái lược về ý nghĩa và lợi ích của việc tu tập tọa thiền như thế thôi. Quí vị muốn biết hết giá trị của nó thì hãy từng bước đi vào thực tập. Chừng ấy, như người uống nước nóng lạnh tự biết, đâu thể nói tới được. 

Hoà thượng Thích Thanh Từ 

May 4, 2013

Cội nguồn hạnh phúc là cho chứ không phải là nhận

Trong cuộc đời, có lẽ ai cũng từng giúp người và từng được người giúp. Hiệu quả giúp đỡ phụ thuộc nhiều yếu tố như: khả năng, thiện chí, cách thức… Khả năng thì có hạn vì trong đa số trường hợp, ta không thể vượt quá khả năng của mình.
Hạnh phúc là cho chứ không phải là nhận - Hình minh họa

Thiện chí giúp đỡ có thể là vô hạn tùy thuộc tâm từ bi của mỗi người. Cách thức thì rất đa dạng như giúp công sức, tiền bạc, chia sẻ kiến thức, tình cảm,... đến đối tượng hoặc dựa vào các mối quan hệ để giúp người việc này chuyện kia như xin hộ việc làm, giới thiệu khách hàng. Tuy nhiên, khi nói giúp đỡ, người ta thường hay nghĩ đến giúp về vật chất, gọi một cách nôm na là cho hoặc bố thí.

Có người cho thật dễ dàng, sẵn lòng ban phát tiền của khi bắt gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, đáng thương. Họ giúp đỡ một cách tự nhiên, tự nguyện và có thể bố thí đến những đồng bạc cuối cùng.

Trái lại, có người hiếm khi cho và nếu có thì rất khiêm nhường. Khó khăn lắm họ mới có thể mở hầu bao, trong một số trường hợp gần như là miễn cưỡng. Họ thường viện dẫn các lý do để từ chối như chưa đủ khá giả, đối tượng chưa thực sự đáng giúp, chưa đúng lúc, chưa đúng nơi v.v… Và lý do phổ biến nhất là lo cho người thân còn chưa xong nên chưa nghĩ đến việc giúp người khác. Lý do này thoáng nghe có vẻ hợp tình, hợp lý nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì vẫn thấy dường như chưa ổn.

Lo cho người thân cũng vô chừng như lo cho chính mình. Hơn nữa, không chắc ta đã thực sự lo cho người thân trừ khi giúp họ giải quyết rốt ráo một số khó khăn cụ thể như giúp mua thửa đất, ngôi nhà, chiếc xe, trợ vốn làm ăn. Còn thỉnh thoảng biếu người thân, bạn bè một ít tiền, quà vào dịp lễ lạt hay khi cơ nhỡ thì chỉ là sự giúp đỡ tạm thời. Không thể dựa vào đó để từ chối giúp đỡ những hoàn cảnh như đói khát, thất học, bệnh tật không tiền thang thuốc, chết không tiền ma chay, bị thiên tai, hỏa hoạn. Bởi thực tế, ngay khi đó, ta đâu có giúp người thân mà chỉ nghĩ đến những lần giúp đỡ trước đó hoặc hình dung sau này có thể sẽ phải giúp. Đôi khi còn tự trấn an vĩnh viễn rằng thiên hạ nghèo khổ đầy dẫy trong xã hội, lo sao cho xuể.

Tôi có đứa cháu bị liệt hai chân. Cha mẹ cháu đều là công nhân, nếu khéo gói ghém thì cuộc sống cũng tạm đủ dù phải cưu mang cháu suốt đời. Bởi cháu cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ cộng đồng như khoản trợ cấp hàng tháng từ chính quyền xã, tiền và quà từ các tổ chức từ thiện, sự giúp đỡ thường xuyên của bà con thân tộc. Một bữa nọ, được tin người thầy cũ bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, nếu không lo đủ viện phí để tiến hành phẫu thuật thì thầy sẽ bị liệt. Tôi nhanh chóng trích một khoản tiền nhỏ nhưng cũng chiếm đến 1/5 tiền lương tháng để giúp thầy.

Đứa em gái biết chuyện đã trách hơi lớn tiếng:

- Sao không để dành giúp cháu, người nhà không lo, lo làm chuyện bao đồng.

Thực ra nếu không giúp thầy lần đó thì tôi cũng đâu có chi số tiền trên để giúp cháu, bởi tôi đã giúp gia đình cháu rất thường xuyên. Một cách ấm ức, tôi hỏi lại:

- Giả sử hôm nay ra chợ gặp ba người ăn xin, nếu có thể giúp được ba đồng thì ta sẽ cho mỗi người một đồng hay cho luôn một người cả ba đồng, rồi không giúp hai người kia?

Em tôi đáp:

- Hãy giúp người nghèo khổ nhất trong ba người đó!

Tôi hỏi:

- Làm sao biết ai là người đáng giúp nhất?

Em sốt sắng đáp:

- Người có bề ngoài thảm hại, thần sắc tiều tụy, đầy thương cảm là người cần được giúp trước. Cũng có thể ưu tiên theo thứ tự trẻ con, người già, phụ nữ rồi mới đến đàn ông, người bị tật nguyền nặng hay nhẹ,… Khó tả lắm! Tùy thực tế cảm nhận lúc đó mà thôi!

Tôi ôn tồn giãi bày:

- Người ăn xin có nỗi khổ của họ, vừa khổ thân do phải lăn lóc xó chợ đầu đường, dãi nắng dầm sương, vừa khổ tâm do phải cam chịu thân phận thấp hèn, đôi khi còn bắt gặp ánh mắt, thái độ thiếu thân thiện thậm chí khinh khi. Và không hẳn người có bề ngoài tiều tụy nhất là người có hoàn cảnh khó khăn nhất! Bởi có người cố tạo bề ngoài đầy thương cảm thậm chí trông gớm ghiếc để khơi dậy lòng trắc ẩn của người khác nhưng cũng có người do cảnh ngộ bức xúc, phải nén lòng cầu xin sự giúp đỡ và họ không muốn làm ô nhiễm môi trường qua việc phơi bày các thương tật, họ thể hiện chừng mực nỗi khốn khó, tình trạng bi đát của mình đủ để những ai có từ tâm hiểu và giúp họ. Cho nên, thật khó mà đánh giá sự việc chỉ qua bề ngoài hay cảm nhận cá nhân nếu như chưa có được sự cảm nhận sâu sắc hay cái nhìn chính xác. Thôi thì vui giúp tất cả, có thể giúp lầm nhưng cố gắng đừng bỏ sót hay không giúp kịp thời, cố gắng giúp được chừng nào hay chừng nấy, được ngày nào hay ngày ấy, để kẻ khốn khó bớt phần vất vả, qua cơn đói lòng hay thoát cảnh hiểm nguy.

Đứa em gái tuy chưa thừa nhận ngay cách lý giải của tôi nhưng cũng không nói gì thêm nữa. Tôi tin rằng em sẽ nghĩ lại quan niệm về bố thí của mình.

Hôm khác, chị hàng xóm thân thiết sang chơi, phàn nàn với tôi:

- Thỉnh thoảng, vợ chồng chị biếu má chút tiền tiêu vặt nhưng bà cụ cứ gom góp để dành cúng chùa hoặc bố thí không hà! Bực mình ghê!

Tôi biết bác bên nhà được anh chị quan tâm và chăm sóc chu đáo. Tiền anh chị biếu để tiêu vặt, không phải là bác không có nhu cầu ăn uống hay mua sắm nhưng do bác cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn khi được cúng chùa hoặc giúp đỡ ai đó. Chẳng lẽ đó không phải là cách xài tiền hợp lý ư?

Tôi hỏi chị hàng xóm:

- Chị có thực rõ ý nghĩa của việc cúng chùa không?

Chị hàng xóm cũng là Phật tử nên mau mắn trả lời:

- Cúng chùa là cúng dường Tam bảo, phụng dưỡng Tăng để hướng dẫn chúng sanh tu học cũng là phổ biến Phật pháp. Tuy nhiên, tùy thuộc từng chùa và mỗi Tăng Ni mà người cúng dường sẽ được hưởng phước nhiều hay ít. Vì vậy, người ta thường tham gia các chuyến hành hương đến những ngôi chùa nổi tiếng có đông đảo Phật tử và các bậc cao tăng đạo cao đức trọng để cúng dường.

Tôi tiếp lời:

- Chị nghĩ có phần đúng, có phần chưa đúng. Cúng chùa chẳng phải vì chùa lớn hay nhỏ, chùa có nhiều hay ít Phật tử. Cúng dường Tăng chẳng phải vì Tăng giỏi hay dở, tốt hay xấu, chẳng phải vì ưa hay ghét và cũng chẳng phải vì chùa hoặc Tăng có giúp mình, giúp người hay không. Mà cần hiểu rõ ý nghĩa cao cả tột cùng của việc cúng chùa, cúng dường chư Tăng là bảo tồn và lưu truyền Phật pháp, là việc thiêng liêng, cao quý nhất trong đời người làm Phật sự. Hiểu được như vậy thì dù chùa có hưng thịnh hay suy sụp, chư Tăng có sáng đạo hay không cũng chẳng phải là chuyện để tâm, chỉ một lòng vì Phật pháp là trọn đời, tròn đạo!

Chị hàng xóm tỏ vẻ hân hoan vì nhận ra ý nghĩa cúng chùa.

Tôi lại hỏi:

- Còn việc bố thí thì sao?

Chị vui đáp :

- Bố thí tất nhiên mang lại niềm vui và lợi ích cho người rồi nhưng mà mình thì hơi "hao" đó !

Tôi mỉm cười:

- Bố thí mang lại lợi ích cho cả đôi bên. Trước tiên là cả hai đều vui. Người nhận vui đã đành, người cho nghĩ đến việc góp phần giúp người qua cơn cơ nhỡ nên cũng cảm thấy hân hoan, hài lòng, đôi khi còn có chút hãnh diện nữa bởi có khả năng, có điều kiện mới có thể bố thí được. Bố thí là gieo nhân lành nên sẽ hưởng quả ngọt trong hiện tại và nhiều kiếp sau nữa. Có thể xem bố thí là cách sử dụng đồng tiền được nhiều lần thậm chí vô lượng lần bởi nhân bố thí gieo đi sẽ mang lại sự sung túc, hạnh phúc trong nhiều đời.

Giúp đỡ cần phải kịp thời mới có ý nghĩa và hiệu quả cao. Việc làm tuy nhỏ bé, bình thường lại mang lợi ích, ý nghĩa lớn lao không cùng. Tấm lòng càng bao la thì càng cứu giúp được nhiều người, càng ban phát thì lại càng giàu lòng từ bi hơn.

Một người sẵn lòng giúp đỡ, rồi chục người, trăm người, ngàn người,… cũng dễ dàng bố thí thì xã hội đâu còn những con người quá khổ đau hay những hoàn cảnh ngặt nghèo. Không phải chứng kiến những mảnh đời bất hạnh, không còn trăn trở, suy tư về nỗi thống khổ của con người, hạnh phúc nơi ta mới thật sự trọn vẹn, trong sạch và thăng hoa.

Cách đây nhiều năm, do sống đời kham khổ, tôi mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, cái chết như đã cận kề. Nằm bệnh viện hơn một tháng trời, lòng tôi ngổn ngang trăm thứ, chẳng ham sống cũng chẳng có ý niệm hay sợ hãi về cái chết, mọi thứ cứ lững lững, lờ lờ. Một đồng nghiệp cũ đến thăm, tặng tôi một món tiền khá lớn để có thể chữa trị căn bệnh ngặt nghèo ấy. Nhờ số tiền đó mà tôi đã qua khỏi cơn bệnh. Người đồng nghiệp kia không thân thiết lắm, đã nghỉ việc từ lâu, mức sống chưa thể gọi là khá giả nhưng nhờ giàu từ tâm nên đã cứu mạng tôi.

Khi bắt gặp hoàn cảnh đáng thương, bế tắc, nếu có điều kiện giúp đỡ thì đừng chần chừ gì nữa, hãy nhanh chóng mở lòng và mở hầu bao, dù đó là người không thân thiết lắm hay kẻ xa lạ. Khi cả cộng đồng biết sẻ chia, biết quan tâm đến nhau thì xã hội sẽ thực sự an lành, tốt đẹp. Và biết đâu, ngày nào đó chính bạn hay con cháu, người thân của bạn lại đón nhận sự giúp đỡ từ người khác, dù bạn chẳng hề mong đợi. Vì hiện tại bạn khỏe mạnh, giàu sang nhưng những rủi ro, bất trắc,…. đều có thể xảy đến với gia đình bạn lắm chứ. Một trận hỏa hoạn, chẳng hạn, thiêu rụi toàn bộ gia sản của bạn hay con bạn vướng phải căn bệnh nan y đến nỗi phải dốc toàn bộ gia sản để chữa trị và gia đình lại rơi vào cảnh khốn cùng...

Người đồng nghiệp giúp tôi năm xưa hiện đang sống rất hạnh phúc, an lành, của cải dư thừa cho dù bạn ấy không ngừng bố thí. Âu đó cũng là hệ quả tất yếu của luật nhân quả!
Do vậy, đừng do dự nữa, hãy trải lòng ra, hãy bố thí một cách dễ dàng, sẵn sàng cho dù có phải vét đến những đồng xu cuối cùng bởi vì "Cội nguồn của hạnh phúc là cho chứ không phải nhận"

Phước Đạt
Source: Phapamthuongchuyen.com

April 15, 2013

Nở hoa tâm hồn

GN - Chủ đề này gợi tôi nhớ lại sáu mươi năm trước khi mới đi tu, tôi gặp Hòa thượng Trí Đức ở tổ đình Huê Nghiêm, ngài làm lễ thế độ cho tôi. 

Trong đạo Phật, khởi đầu tu hành, khi còn là cư sĩ thì quy y Tam bảo, nghĩa là kính trọng Phật là bậc Đạo sư, lấy Giáo pháp làm kim chỉ nam và tôn kính chư Tăng dìu dắt mình trên bước đường tu. Và đến lúc đủ duyên, quý vị phát tâm xuất gia thì phải cần thầy thế độ là cạo tóc cho mình, gọi là bổn sư thế độ, tức vị đó dìu dắt mình suốt cuộc đời tu hành. Nam cư sĩ xuất gia thì nương vào Tăng, nhưng nữ cư sĩ xuất gia phải nương các Ni trưởng. Tăng không độ cho Ni, vì Ni có tâm trạng phức tạp, chỉ có các Sư bà biết được tâm trạng của phụ nữ. Khi tôi xuống tóc, Hòa thượng Trí Đức cho tôi pháp danh là Nhật Nghiêm, pháp tự là Trí Quảng. Đặt pháp danh xong, ngài xuất bài kệ làm kim chỉ nam cho tôi tu hành. Hòa thượng dạy tôi nương theo bốn câu kệ này tu hành, nhất định có kết quả tốt. Người xuất gia không may gặp vị Tăng đạo đức không cao thì không thể che mát được. 


Xuất gia cần có bậc cao đức để nương, làm bóng mát để mình tránh được sự oi bức của cuộc đời. Nếu gặp thầy trẻ xuất gia một lúc, thầy đó hoàn tục, làm sao tu, phải cầu vị cao tăng khác chỉ đạo. Hoặc xuất gia rồi, nhưng ở với thầy, phát hiện những điều mình bất kính thì phải bỏ đi.

Tu Phật để tâm hồn mình luôn nở hoa - Ảnh minh họa Trong kinh Hoa nghiêm cũng dạy rằng học với vị sư đắc được pháp nào đó, rồi phải từ giã, theo vị sư khác để tiến tu, không thể theo vị đó suốt đời. Còn nếu ở với thầy còn nhiều điều mình cần học thì ở lại được. Mỗi người có sở đắc riêng, chúng ta học xong rồi đi. Thiền diễn tả ý này là: “Khô mộc lý long ngâm bằng quân hội đạo khứ”. Đạo là cái gì vô ảnh vô hình, không thể nắm bắt được. 

Vì vậy, thấy vị cao tăng tu hành, sống bình thường, nhưng tại sao được người người kính trọng. Việc đó không thể giải thích, không bắt chước được, chỉ có ngộ đạo mới thấy được. Thầy ăn một chén cơm, mình cũng ăn vậy. Thầy tụng kinh, mình cũng tụng kinh y hệt như thầy, nhưng sao người không kính trọng mình. Đạo khó hiểu là vậy, nên phải tìm cửa để vào. Khi nào chúng ta học ở thầy được rồi, nghĩa là việc gì thầy làm được, mình cũng làm được thì chúng ta từ giã thầy, lúc ấy mới lên được, nở hoa được. 

Tôi khuyên quý vị nếu thấy tôi không có gì đáng học thì nên tìm đạo sư khác để học; đừng vì đã quy y với thầy mà ở với thầy sanh phiền não là sai.
Hòa thượng cho tôi bài kệ là định hướng cho tôi đi đúng:

NHẬT lãm Thiền tông cổ đại nhân 
NGHIÊM trì giới hạnh siêu tinh thần 
TRÍ châu Pháp giới chơn thường lạc 
QUẢNG phát tâm hoa nhựt nhựt tân.

Nghĩa là hoa lòng phải nở ra, mỗi ngày phải luôn mới. Vì vậy, tôi suy nghĩ mỗi ngày tu hành, nếu tôi không phát hiện thêm ý mới thì coi như ngày đó vô nghĩa. Phát hiện điều mới là trong lòng mình nở hoa. Mỗi ngày chúng ta phát hiện một ý tưởng để thăng tiến trên đường đạo, nhưng muốn như vậy, phải làm sao?

Mỗi ngày phải siêng năng đọc tụng kinh điển, không tụng kinh thì trí không sanh, không đọc tụng kinh thì thấy ngày đó thiếu thốn, nghĩa là Pháp thân mình bị ốm yếu, vì người tu lấy Pháp làm thân, không phải lấy sinh mạng làm thân. Mỗi ngày thân phải nghe pháp, tụng kinh, nếu không thì Pháp thân yếu. Mỗi ngày mỗi ngày chúng ta dành thì giờ cho việc đọc tụng, suy tư Phật pháp; không làm như vậy, chúng ta dễ lạc đường, khó quay trở lại. Thà không tu còn đứng tại chỗ, nhưng tu sai thì đi lạc xa, không tiến được, mà rớt vào ngã mạn. 
Thực tế cho thấy một số Phật tử tu lâu, nhưng tu sai nên rất khó chịu, nghe pháp thì không chú tâm và hiểu đạo theo dị kiến, họ học nhiều biết nhiều, nhưng làm cho người ghét, rồi lại khoe rằng tôi tu lâu rồi, nhưng thực sự đã bị lạc. Trong lúc người mới phát tâm nghe pháp tập trung và có ảnh hưởng tốt, tâm họ thanh tịnh. Vì vậy, cổ nhân nói phải giữ tâm ban đầu. Người mới phát tâm vào chùa thấy tượng Phật uy nghiêm thì kính trọng, nhưng đi lâu lại xem thường Phật. Đó là nhứt niên Phật tại tiền, lúc mới tu, Phật ở trước mặt, nhưng nhị niên Phật thăng thiên, lúc thấy Phật, lúc không thấy, hay thấy Phật bình thường là tâm hư rồi. Và tam niên bất kiến Phật, tu ba năm thì không còn thấy Phật, là tu sai, đi lạc quá xa.

Người xưa khuyên tu lúc nào cũng có Phật ở trước mặt, hay giữ Phật trong lòng, mới có tiến bộ; đó là ý câu kệ thứ nhứt. Nhờ câu kệ này, tôi nghiền ngẫm, luôn có Phật trước mặt và để Phật vào lòng; từ đó gặp việc buồn không buồn, gặp việc thuận hay nghịch đều không thiết, vì trong lòng đã có Phật.
Câu thứ hai: Nghiêm trì giới hạnh siêu tinh thần. Việc quan trọng tu hành phải có giới hạnh, mất giới hạnh là đi lạc. Giới ban đầu ràng buộc chúng ta, nhưng tu một thời gian, điều ràng buộc làm chúng ta trở thành người đáng kính trọng. Thí dụ Phật tử tu năm giới, mới đầu không được uống rượu cảm thấy khó chịu, nhưng sau quen, không nghiện rượu thấy dễ chịu; nói cách khác là khi cai được nghiệp của mình sẽ thấy giải thoát là nhờ giới làm chúng ta thanh tịnh. 

Giữ được giới nào thì thân chúng ta thanh tịnh chỗ đó, đáng được kính trọng chỗ đó. Càng giữ giới càng tốt, từng bước siêu thoát, đi lên. Thân vật chất chúng ta vẫn hiện hữu, nhưng tinh thần chúng ta thăng hoa gọi là thoát tục và khi chúng ta không bận rộn hơn thua phải trái với cuộc đời thì trí sanh ra, hiểu biết sanh ra. 

Còn kẹt cuộc sống, quyết định của chúng ta không sáng, thấy theo tình cảm thì thương trái ấu cũng tròn. Tinh thần chúng ta siêu thoát thế gian, thấy mới đúng.

Theo Phật, thiện tri thức có hai là người xấu và người tốt. Thấy người xấu và người tốt đều là thiện tri thức thì tinh thần mới nở hoa, nhìn đời đẹp như vậy là nhìn theo Thiện Tài. Người tâm bị giới hạn thấy gì cũng xấu, vô chùa thấy sư không vừa ý, gây một trận bỏ về; về nhà thấy người thân là cha mẹ vợ con cũng không thích, bỏ đi là không còn đất sống. 

“Trí châu Pháp giới chơn thường lạc”. Người sống ung dung tự tại là vì tinh thần của họ siêu thoát. Siêu thoát tinh thần thì đi vào cuộc đời mới thấy chơn thường lạc là thấy lạc quan, yêu đời, vì thấy theo Hoa nghiêm, mỗi người một vẻ, một ý tưởng tốt. Kinh Pháp hoa nói chỉ có hoa sen đẹp nhất, nhưng kinh Hoa nghiêm nói tất cả các hoa đều đẹp, kể cả hoa dại, có những hoa nhỏ đơn giản vẫn đẹp, tập hợp thành vườn hoa đẹp, tức cuộc sống đẹp. 

Thật vậy, có người rất nghèo, nhưng sau khi lao động, họ ăn bánh mì khô cũng thấy rất dễ thương, hay chúng ta cho con cá ăn thấy nó cũng đẹp, thấy nó vui ta cũng vui. Tâm chúng ta siêu thoát thì tất cả mọi việc đều thấy đẹp, nhưng tâm còn kẹt cuộc đời thì thấy không có gì đẹp. Ở núi, tôi thấy con sóc, con khỉ bò ra leo lên cây bắp, gỡ vỏ ra, lấy hột ăn mà trái bắp còn nguyên, thấy rất dễ thương.

Khi tâm hồn chúng ta siêu thoát, không còn hơn thua giành ăn với chúng sanh thì thấy cái gì cũng có nét đẹp riêng. Phật dạy chúng ta tu, nhìn cái dễ thương, đừng nhìn cái đáng ghét. Người quá tham lam thấy cái gì cũng đáng ghét. Dứt sạch tham lam, siêu thoát tâm hồn, trí chúng ta châu viên Pháp giới là cánh cửa giải thoát, từ đó thấy chơn thường lạc là thấy cái thật. 

Thấy thật là sao? Vì chúng ta tham, tranh giành với chúng sanh nên thấy nó ghét; nhưng lòng chúng ta cởi mở thấy trái đất này là của muôn loài, thì tại sao ta hại nó. Loài nào chúng ta cũng diệt, vì chúng ta tranh giành sự sống với nó, chúng ta không muốn nó sống thì nó cũng không muốn chúng ta sống, nên tất cả đều chết. Sự thật theo Phật thì tất cả các loài tương quan tương duyên tồn tại, một loài mất là mất sự cân bằng của trái đất. Chẳng hạn như tôi thấy voi rừng ra quật chết người, nó nổi giận, vì ta lấn đất, giành cuộc sống của nó. Rừng là chỗ ở của nó, nhưng chúng ta khai hoang, buộc nó phải tiến ra phá hoa màu thì chúng ta lại diệt nó. 

Phật dạy rằng tất cả vì cuộc sống mà tranh giành giết nhau, cái gì hợp với ta thì ta thấy phải, không hợp với ta thì ta cho là trái. Tất cả các loài phải cộng tồn. Một ngàn năm trước, trái đất có bao nhiêu người, đất dành cho loài khác tồn tại; nhưng một ngàn năm sau, loài người phát triển quá nhanh, đẩy tất cả các loài khác vào vòng diệt chủng. Và riêng trong loài người còn tranh giành với nhau, tự hủy hoại nhau. 

Nếu có ý thức cân bằng môi trường sống thì cái gì cần cho ta sống và cái gì phải để cho các loài khác sống, cái gì cần giữ cho thiên nhiên tươi tốt, thì không tàn phá thiên nhiên, không sát hại muông thú, chắc chắn là không xảy ra thiên tai, không bị khủng hoảng môi sinh gây tác hại cho chính loài người và cho cả thiên nhiên, cùng muôn loài.

Thấy đúng sự thật gọi là chơn, ta phải giải quyết tốt đẹp, làm sao ta sống và các loài cùng sống, làm sao các anh em thượng đẳng là Phật, Bồ-tát, các anh em đồng đẳng là loài người và anh em hạ đẳng là các loài dưới chúng ta, tất cả cùng sống hài hòa; được như vậy, tâm chúng ta lúc nào cũng an vui. Ngày nào còn tranh giành giết nhau là còn gieo tang tóc cho loài người và muôn loài.

Câu thứ tư: Quảng phát tâm hoa nhựt nhựt tân là trăm hoa đua nở trong lòng, thấy tất cả các loài đều đẹp, mỗi ngày chúng ta biết thêm được điều mới là nhựt nhựt tân. Nhờ bài kệ này hướng dẫn tôi sống tốt đẹp trải qua suốt sáu mươi năm. Tất cả Phật tử suy nghĩ theo để sống tốt thì điều thứ nhất tôi muốn nhắc nhở là làm sao chúng ta học được điều Phật làm, Thánh Tăng làm. 
Điều thứ hai là ta sống trên cuộc đời này chỉ làm lợi là vô hại, không làm tốt được cho cuộc đời thì cũng không làm xấu, để sau không phải ân hận. Thấy người bệnh hoạn, xấu xí, hôi dơ, ta biết nghiệp của họ, nên thương họ và từ từ tháo gỡ khó khăn cho họ, nói cách khác, cái xấu xí của họ cũng dễ thương, họ hôi dơ không dám đến gần ta thì thấy họ vậy cũng dễ thương, hoặc người nghèo mà biết an phận nghèo quy củ tu hành thì cũng dễ thương. 

Chỉ làm việc lợi ích thì mỗi ngày trôi qua thấy quá khứ đẹp, làm sai trái thấy không vui, tâm không nở hoa được. 

Mỗi ngày cố gắng làm lợi cho người, không giúp được thì cũng không gây đau khổ, để nhìn đời thấy đẹp. Chúng ta thấy rõ mỗi loài đều có nghiệp, nó yếu ớt, không chống trả được loài người, nên phát tâm thương, giúp, cứu được là cứu và làm được nhiều việc thiện thì sau tâm chúng ta luôn an lạc, vì nhớ đến quá khứ tốt, tâm ta sẽ an, nhớ quá khứ xấu, tâm chúng ta sẽ khổ. Làm được nhiều việc tốt, thì kết thúc trăm hoa đua nở trong lòng, tất cả những gì làm tốt trong quá khứ đều có trong lòng chúng ta và cái hôm nay sẽ là nhân cho cái sau. 

Cầu mong quý Phật tử nỗ lực làm nhiều việc tốt, tâm sẽ nở hoa, cuối cùng trăm hoa đua nở trong lòng thì con đường Bồ tát đạo như vậy sẽ dẫn đến quả vị Phật không xa.

HT.Thích Trí Quảng
Source: Giacngo.vn

February 24, 2013

Giá trị cuộc sống

Thật may mắn khi ta có mặt trên cuộc đời này ! Thật may mắn khi ta có cuộc sống hạnh phúc ! Và thật may mắn khi ta sở hữu mọi thứ, những thứ thật giản dị, thật bình thường: Nhờ chúng mà ta nhìn cuộc đời bằng lăng kính gần gũi yêu thương. Thấy được cuộc đời này không phải là màu hồng hào nhoáng. Có nhiều lúc tuyệt vọng rồi chợt nhận ra rằng: Còn biết bao điều hạnh phúc là những điều giản dị xung quanh. Chỉ vậy thôi nhưng đã giúp ta hiểu được giá trị của cuộc sống. Ta sẽ tự nhủ: nếu biết trân trọng và nuôi dưỡng thì hạnh phúc sẽ tràn đầy. Không phải cứ làm việc gì to tát thì mới có ý nghĩa. Ý nghĩa thực sự là khi ta có thể đem đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người.

Chắp cánh ước mơ - ảnh Tạ Văn Mãnh

Ta không hoài nghi về cuộc sống này,
Ta phân biệt rõ ràng trắng, đen, tốt, xấu
Ta không để mọi việc mờ mờ ảo ảo
Ta thích thì cứ bảo rằng thích
Ta không thích thì cứ bảo rằng không
Ta xấu thì phải cố gắng làm cho đẹp
Ta đẹp thì cố gắng giữ cho tốt đẹp hơn.
Hãy sống trong yêu thương:

Vì yêu thương là tha thứ. Và tha thứ chính là vượt qua sự công bằng. Tha thứ là chấp nhận mình khờ khạo và luôn nhận thiệt thòi về phía mình. Hỏi rằng trên cuộc đời này có mấy ai làm được như thế? Khi ta vẫn còn biết tự ái, giận hờn, oán trách, khi không vui ta còn nổi giận, cáu gắt. Nhưng nếu tha thứ thì tâm hồn sẽ thanh thản, nhẹ nhàng. Và sẽ không đủ nếu ta chỉ biết tha thứ cho người khác mà đôi khi ta cũng phải học cách tha thứ cho chính mình.
Hãy biết chia sẻ;

Luôn đặt mình vào vị trí của người để biết rằng ta đau thì người cũng đau như ta vậy. Hãy lắng nghe và quan tâm đến mọi người xung quanh, có thể ta không giúp gì được cho họ. Nhưng ít nhất ta cũng đã nghe họ nói và hiểu họ đang cần gì. Đôi khi cũng phải cần chia sẻ trong im lặng vì im lặng là cách chia sẻ tốt nhất.

Tôi đã học được rằng: hạnh phúc là biết mình đang được sống, đang được khỏe mạnh, đang được yêu thương và đang hướng đến sự hoàn thiện. Ta được sống và biết mình đang sống trong hòa bình, ta có tự do, có thể làm tất cả những gì ta muốn. Ta trân trọng những giây phút quý báo của cuộc sống, ta cảm ơn cuộc đời mỗi sáng thức giấc ta biết ta vẫn còn sống, vẫn còn thở, vẫn còn tồn tại vẫn có ích cho đời, cho người thân cho bạn bè cho xã hội thì đó cũng là hạnh phúc. Ta có đầy đủ sức khỏe không bệnh tật, ta có hình hài trọn vẹn, trí tụê sáng suốt thì có hạnh phúc nào bằng. Hãy nhìn những người phải đấu tranh với sự sinh tồn hằng ngày, hằng giờ khi sự sống của họ phải đếm trên đầu ngón tay. Hoặc những người phải đánh đổi tất cả nhà cửa, tiền bạc chỉ để được sống. Những người thân thể không trọn vẹn, trí óc không minh mẫn họ phải sống lệ thuộc vào người khác, họ không thể làm được việc gì dù là việc nhỏ cho bản thân mình. Thì ta sẽ thấy mình là người hạnh phúc nhất.

Ta hạnh phúc không khi người xung quanh ta đau khổ? Ta bất chấp để tìm hạnh phúc cho riêng mình thì hạnh phúc đó có tồn tại không? Câu trả lời là không !Ta có cuộc sống đầy đủ, no ấm, sung sướng thì hãy nhớ còn biết bao người đói khổ đang cần được giúp đỡ. Ta được sống trong tình thương của cha mẹ, ông bà thì hãy nhớ còn biết bao mảnh đời cơ nhỡ, bơ vơ. Ta được thông minh, sáng suốt thì hãy nhớ trên cuộc đời này còn biết bao thân phận ngờ nghệch, không may. Ta được sống trong hòa bình thì hãy nhớ trên thế giới này có những nơi vẫn còn hiểm họa chiến tranh. Hãy một lần nhìn lại, hãy một lần suy tư. Ta hãy làm tất cả những gì có thể dù là ít ỏi nhưng đó là phần thưởng quý giá. Sống là phải vươn lên nhưng đôi khi ta cũng phải biết quay đầu nhìn lại để cảm nhận và chia sẻ với những người bất hạnh hơn mình. Hãy giúp họ thấy được rằng đâu đây còn có một thiên đường. Đó mới là hạnh phúc thực sự. Ta có gia đình, có cha mẹ thương con, có vợ chồng hòa thuận, có con cái hiếu thuận ngoan hiền, có bạn bè thâm giao tri kỷ. Ta biết được rằng ta đang sống trong tình yêu thương của mọi người. Ta cảm nhận được sự chăm sóc, lo lắng, bảo bọc, chở che thì hãy biết rằng ta đang hạnh phúc. Khi đã có cuộc sống đầy đủ như thế thì tâm hồn ta phải biết tự hoàn thiện. Hạnh phúc là sống đúng với bản thân mình, sống là không từ bỏ ước mơ, sống là đứng lên sau mỗi lần vấp ngã và sống là hãy biết mỉm cười. Cuộc sống luôn dành cho ta những niềm vui, nỗi buồn, nụ cười, nước mắt, thành công và thất bại. Có những điều tưởng chừng rất đơn giản nhưng chứa đựng rất nhiều ý nghĩa. Hạnh phúc thực sự là gì khi ta không biết nắm giữ nó, cuộc sống sẽ khổ đau và đầy nước mắt khi ta không biết trân trọng những gì mình đang có. Vậy hạnh phúc là gì nhỉ? Là yêu thương là tha thứ là chia sẻ là cảm thông là thấy bình yên nơi cuộc sống này

Phương Mai
Sources: Phapamthuongchuyen.com


February 17, 2013

Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc

Trong cuộc sống, bạn có thể nhận thấy rằng nhiều việc có xu hướng xẩy ra rất sai lạc, hoặc ít nhất, thì những điều đó không đúng như ý bạn mong đợi. Nên, mặc dù nhiều lần gây tổn thương, nhưng bạn vẫn phải tiếp tục đối diện và cố gắng vượt qua, để tìm kiếm hạnh phúc mỏng manh tiềm ẩn trong tâm, mà bạn theo đuổi.


Nhưng, nhìn lại, nó khó khăn như là phải đánh vật với võ sĩ Mike Tyson. Không ai có thể đạt được mơ ước như là tránh không bị các vấn đề của bệnh tật, tuổi già, cái chết, có kẻ thù v.v… Tuy nhiên, có một phương pháp có thể loại bỏ các vấn nạn khổ đau có trong ngữ vựng.

Thay vì đó là những trở ngại cho hạnh phúc, những điều sai lầm trong cuộc sống, được gọi là các vấn nạn và có phản ứng gây buồn phiền, lo lắng và tức giận, thì cần được chuyển hoá thành một nguồn hạnh phúc.

Chìa khóa của sự chuyển đổi kỳ diệu này là nhận thức bằng kinh nghiệm riêng mình để xác định xem sự việc đó có phải là một vấn nạn hay không. Nếu bạn thường xuyên đổ lỗi cho thế giới bên ngoài thường đem lại những phiền nhiễu, thì mọi vấn đề vẫn luôn luôn xuất hiện với bạn như là tác nhân gây hại và bạn sẽ không bao giờ giải thoát khỏi đau khổ và sân hận.

Để chuyển hoá khổ đau thành hạnh phúc, trước tiên, bạn phải từ bỏ thái độ không muốn mọi thứ đi sai lạc, vì vốn nó là như vậy, nên thật là vô ích khi muốn sửa đổi chúng, bởi vì, nếu vấn đề có thể sửa đổi, bạn đâu có phải lo âu.

Cho nên, nếu không thể sửa đổi, thì ưu phiền cũng không thể giải quyết được, mà chỉ như lấy muối để chà xát vết thương. Tâm lý học hiện đại cho rằng đau khổ là điều tự nhiên và do đó, bình thường - nếu bạn không phản ứng với khổ đau vì cái gì sai trái với mình.

Đức Phật không nói rằng điều đó là tốt, mà đề cập đến đức hạnh, suối nguồn của hạnh phúc là tốt, và vô đạo đức là gốc của buồn đau, là xấu.. Đức hạnh đến từ trí tuệ và lòng từ ái, còn vô đạo đức đến từ vô minh, ái ngã, tham chấp và sân hận. Thật sự, nếu bạn càng ngăn chặn khổ đau, có thể sẽ làm phát sinh các vấn nạn khác, nhưng nếu tâm bạn không có gốc phiền não, thì bạn không thể có vấn đề gì để mà ngăn chặn, cũng như được an lạc..

Ngoài ra, bạn phải từ bỏ ác cảm đối với các vấn đề, bởi vì sợ hãi, âu lo chỉ làm tăng thêm sự tổn hại ảnh hưởng đến lòng dũng cảm, ví dụ như có sự khác biệt trong tâm hồn giữa đứa trẻ hoãng sợ khi bị kim chích, so với những trẻ khác không sợ. Cho nên, sự âu lo làm cho bạn không thể chịu đựng được dù sự việc rất nhỏ.

Hơn nữa, để chuyển đổi các vấn nạn thành hạnh phúc, bạn cần phải thực tập cho tâm bình thản khi có những vấn đề phát sinh, bởi vì điều đó giúp bạn phát triển đức hạnh, tránh xa điều xấu. Như vậy, không có nghĩa là bạn phải đi tìm kiếm những bất hạnh khi chưa đủ năng lực, vì các vấn đề luôn có mặt, nên khi đối diện đến, bạn có thể đối phó bằng nhiều cách. 

Để tránh nghiền rượu, người nghiện cần phải loại bỏ ảo tưởng rằng say rượu sẽ đem lại hạnh phúc, mà ngược lại, chỉ gây tai hại cho chính họ và các người khác.

Để tránh mang các ảo tưởng là nguồn hạnh phúc thực nằm ở bên ngoài, bạn nên quán chiếu đến sự vô thường của các pháp, các chết của người thân, để qua đó, như là cơ hội để nhìn rõ thực tại và phá vỡ sự chấp trước vào sự phù du của thế giới hiện tượng.

Kế đến, khi trải qua sự bất hạnh, sẽ là năng lực làm phát triển từ tâm đến người có cùng hoàn cảnh như bạn. Cách điều trị hữu hiệu, rõ ràng nhất là tìm đến vị bác sĩ có cùng căn bệnh như bạn, sẽ được cảm thông để chỉ dẫn.

Lòng ngã mạn là trở ngại lớn nhất, nên nếu bạn có thể tự nói các khuyết điểm, tự chế diểu … để cho người khác biết sự sai lầm của mình, sẽ ngăn ngừa lòng kiêu căng và tránh được sự che dấu các sai lầm của mình. Thay vì, chế diễu bạn, mọi người sẽ thương yêu và tin tưởng bạn hơn.

Cuối cùng, để khắc phục kẻ thù nguy hiểm nhất là sự sân hận, bạn cần phải thực hiện hạnh nhẫn nhục, đó là liều thuốc hoá giải kiến hiệu nhất. Những người làm hại mình thực sự là người bạn tốt nhất để cho bạn có cơ hội để vượt qua những điều gây tổn thương cho bạn hơn hơn bất cứ điều gì khác- đó là lòng sân hận.

Bằng cách thực hành những điều nầy và có thái độ tích cực đối với các vấn nạn, bạn sẽ cảm thấy tâm mình nhẹ nhàng hơn và sự an lạc và hạnh phúc sẽ không còn bị ảnh hưỡng bởi các vấn đề trầm trọng, nên thay vì chúng gây nên nổi bất an, thì lại trở thành nguồn của hạnh phúc.

Khi lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, bạn cần nuôi dưỡng tâm an lạc, vì nếu bạn luôn mang tâm trạng bất mãn và âu lo, thì tâm sinh lý sẽ bị rắc rối, làm bạn khó mà có hạnh phúc. Nhưng, nếu cuộc đời bạn rơi vào khúc quanh trắc trở, mà tìm thấy được an lạc qua đó, thì thân tâm của bạn sẽ hạnh phúc hơn.

Bạn không thể bị tổn thương bởi những dữ kiện bên ngoài, vì nhận thức rằng tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đến từ tâm. Cho nên, nếu tìm kiếm hạnh phúc trong các đối tượng bên ngoài, bạn sẽ bị bên ngoài tác động đến, ngay cả lời bình phẩm nhỏ cũng làm cho chán nản. Tốt hơn hết và thật dễ dàng, nếu bạn kiểm soát được tâm mình.

Ven. Thubten Gyatso
Cư sĩ Liên Hoa (dịch)

Đạo Phật và nghệ thuật hóa giải sân hận

Tức giận. Thịnh nộ. Uất hận. Dù nó là gì, nó luôn xảy đến cho tất cả chúng ta, kể cả các Phật tử. Và cho dù chúng ta hiểu biết về lòng từ bi, nhưng chúng ta những người con Phật vẫn còn là chúng sanh, nên đôi khi cũng dễ nổi giận. Phật giáo (PG) dạy gì về sự sân hận?


Sân là một trong tam độc - hai độc khác là tham và si. Tam độc là nguyên nhân đầu tiên đưa chúng sinh vào luân hồi sinh tử. Thanh tịnh hóa, không sân hận là điều rất cần thiết khi tu tập theo PG. Ngoài ra, trong PG không có cái gọi là cơn sân “đúng lý”, hay “chính đáng”. Tất cả mọi sân hận đều là phiền trược, khiến khó có thế đi đến giác ngộ.

Tuy nhiên, những đại sư đã đắc đạo cũng vẫn nhận mình đôi khi cũng “tức giận”. Chỉ bởi đối với tất cả người phàm chúng ta , nếu “không tức giận” đồng nghĩa với “điều không tưởng”.

Chúng ta sẽ nổi giận. Vậy thì chúng ta phải làm gì?

Trước hết, phải thừa nhận mình đang giận

Điều này nghe có vẻ hơi ngốc. Nhưng đã bao nhiều lần bạn gặp ai đó đang giận dữ, mà anh ta có chịu nhận điều đó đâu? Vì lý do nào đó, người ta không thừa nhận mình đang giận. Không được đâu! Bạn không thể xử lý một việc khi bạn không thừa nhận là có nó.

PG dạy chúng ta phải chánh niệm. Và chánh niệm với chính mình là một phần trong đó. Khi một cảm xúc hay một ý nghĩ không vui xuất hiện, bạn đừng nén nó lại, hay chạy trốn nó, hay chối từ nó. Thay vì vậy, bạn hãy quan sát nó và hoàn toàn biết nó. Bạn hãy thật chân thành với mình và về mình, điều này rất cần thiết trong đạo Phật.

Điều gì làm bạn giận?

Quan trọng nhất là bạn nên hiểu rằng chính bạn tạo ra sự tức giận đó. Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng cơn giận này là do một điều gì đó bên ngoài chúng ta gây ra, như một người nào đó, hay những chuyện làm ta nổi điên. Nhưng thầy giáo dạy Thiền đầu tiên của tôi thường nói: “Không ai làm bạn giận cả. Chỉ bạn làm bạn giận mà thôi.”

PG dạy chúng ta: Sự tức giận khởi lên từ cái tâm. Tuy vậy, khi bạn đang cố gắng đối trị cơn tức giận, bạn phải suy nghĩ một cách cụ thể hơn. Sự tức giận luôn thách thức chúng ta nhìn sâu vào bên trong. Thường thì tức giận mang tính tự vệ. Nó xuất hiện khi ta sợ hãi một cái gì mà ta không thể giải quyết được, hoặc khi cái tôi của ta lớn quá.

Là Phật tử, chúng ta nhận ra cái tôi đó, sự sợ hãi đó, và cơn giận đó là không ‘có thực’ và vô thường. Chúng chỉ là ‘ma’, theo một nghĩa nào đó. Nếu để cho sự sân hận điều khiển hành động của ta, nó đồng nghĩa với chúng ta để ma xui khiến.

Sân hận là tự chiều mình

Sự tức giận gây cảm giác rất khó chịu nhưng lại có sức quyến rũ lớn. Pema Chodron là một nhà nghiên cứu PG nổi tiếng người Mỹ nói rằng: “Người ta luôn thích thú khi đi tìm lỗi người khác”. Đặc biệt là khi cái tôi của ta bị chạm (hầu như trong mọi trường hợp), và ta muốn bảo vệ cơn giận đó. Ta sẽ viện đủ lý do để nuôi dưỡng nó.

Tuy nhiên, PG dạy rằng: Ta không thể bào chữa cho sự tức giận hay sân hận. Chúng ta tu tập nghĩa là trau dồi lòng từ bi đối với mọi chúng sinh, và lòng từ bi này không có luyến ái, chấp chặt. “Mọi chúng sinh” gồm có cả người mới hồi nãy chen lấn ta ở cửa, hay đồng nghiệp lợi dụng ta để lập công với sếp, hay thậm chí là một người nào đó ta rất thân thiết và tin cậy, đã phản bội ta.

Vì lý do này, chúng ta phải hết sức thận trọng, đừng làm bất cứ hành động gì khi đang giận nhằm làm tổn thương người khác. Chúng ta cũng đừng để cho ý nghĩ mình cứ theo đuổi cơn giận. Hãy cho nó một nơi thích hợp để nó sống và lớn lên.

Học cách chăm sóc cơn giận theo Bụt dạy sẽ giúp mình hóa giải được phiền não, khổ đau

Làm thế nào để dứt cơn giận?

Bạn đã biết bạn đang giận, và bạn cũng biết thực ra điều gì khiến bạn giận. Nhưng nếu bạn vẫn còn giận, thì phải làm gì nữa đây?

Pema nói: Phải nhẫn nại! Nhẫn nại nghĩa là chờ đợi để làm hay để nói điều gì đó, cho đến khi bạn có thể làm mà không gây hại cho người khác. “Tính nhẫn nại luôn đi kèm với sự trung thực. Và nó cũng để cho người khác nói, trình bày quan điểm, trong khi bạn không phản ứng gì - nhưng thực ra bạn đang phản ứng rất nhiều”.

Nếu bạn biết thiền định, đây chính là lúc để nó hoạt động. Ngồi yên với cơn nóng giận đang tràn ngập. Lặng im, vắng bặt, không để cho những lời buộc tội người khác hay tự buộc tội mình rầm rì bên tai bạn. Hãy nhận biết mình đang giận và quan sát, tìm hiểu nó. Dùng lòng nhẫn nại và từ bi cho tất cả chúng sinh và cả cho bạn, để vây lấy cơn giận của bạn.

Đừng nuôi dưỡng cơn giận

Không hành động gì, và phải giữ im lặng trong khi giận tất nhiên là rất khó. Cơn giận thường trào dâng trong ta, tạo nên một năng lượng khiến ta rất tức tối và muốn làm một cái gì đó. Môn tâm lý học khuyên chúng ta lúc đó hãy đấm vào gối, hoặc la to lên, hét lớn lên giữa những bức tường để xả cơn giận. Thiền sư Thích Nhất Hạnh không đồng ý.

“Khi bạn biểu lộ cơn giận của mình, bạn sẽ nghĩ rằng bạn xả được giận. Nhưng điều đó không đúng.” Ngài nói: “Khi bạn biểu lộ cơn giận, bằng lời hoặc bằng bạo lực, bạn đang nuôi dưỡng thêm mầm sân hận, và nó sẽ càng lớn lên trong bạn”.

Cần có can đảm để thể hiện lòng từ bi 

Đôi khi ta nhầm lẫn giữa tính hung hăng với sức manh, giữa không-làm-gì với sự yếu đuối. Chịu thua cơn giận, để cơn giận lôi chúng ta đi và muốn làm gì ta cũng được. Đó là sự yếu đuối. Còn phải có sức mạnh để nhận thức rằng chính nỗi sợ hãi và sự vị kỷ mới gây ra tức giận. Và cần phải có kỷ luật để thiền định về ngọn lửa đang hừng hực cháy của lòng sân hận.

Đức Phật dạy: “Chiến thắng sân hận bằng lòng từ bi. Chiến thắng cái ác bằng cái thiện. Chiến thắng lòng tham bằng tâm bố thí. Chiến thắng sự dối trá bằng lòng chân thật.” (Kinh Pháp Cú, 233).

Thực hiện điều này với chính mình, với người khác, và với cuộc sống của chúng ta, đó là PG. PG không phải là một hệ thống tín ngưỡng, hay là một nhãn hiệu in trên chiếc áo của bạn. PG chính là điều này.


Barbara O'Brien
Thủy Ngọc dịch

An tâm

Hàng năm khi những ngày đông ảm đạm giá rét trôi qua, bầu trời lại được sưởi ấm và trên những cành cây trụi lá đã nẩy lộc đơm hoa, lòng người theo đó cũng hớn hở đón xuân với bao niềm ước vọng. Trong khung cảnh minh niên đầy hân hoan, lòng người con Phật lại thành kính hướng về Tam bảo để cầu nguyện.


Trong đời sống không ai không khỏi bất an trước bao nỗi lo toan phiền muộn, nên cầu an là điều ai cũng đều mong ước. Người ta cầu nguyện bằng nhiều cách, tùy ở niềm tin và nhận thức.

Nếu ai chưa thấm nhuần Chánh pháp, thì họ đi khấn vái am này đền nọ, hoặc cúng sao giải hạn đầu năm. Người thấm nhuần Chánh pháp không cho lối cầu nguyện ấy là thích đáng, là lợi lạc viên mãn. Người Phật tử nghĩ rằng: Duy chỉ đem tâm thành kính thanh tịnh trang nghiêm trì tụng kinh chú trước ngôi Tam bảo và vâng lời Phật dạy làm những việc ích mình lợi người, bố thí phóng sanh để cầu cho thế giới hòa bình chúng sanh an lạc, thì sự cầu nguyện ấy mới đúng với Chánh pháp.

Sự an hay bất an được thể hiện ở trên hai lãnh vực là thân và tâm. Khi thân bị bệnh, bị đói khát, rét mướt, tai nạn, tật nguyền, bị tra tấn đánh đập v.v… đó là những bất an của thân. Khi tâm sầu muộn, bi ai, âu lo, sợ sệt, ân hận hay uất hận, giận hờn, bị các phiền não của tham, sân, si chi phối đó những mối bất an của tâm.

Ở đời cũng có những hạng người sống hời hợt, chỉ biết tìm cầu sự an lành ở thể chất qua sự đáp ứng cho những đòi hỏi như: ăn ngon, mặc đẹp, lắm của nhiều tiền, mong cho tai qua nạn khỏi, công thành danh toại, chứ ít khi nghĩ đến sự an lành cho tâm hồn, nên họ thường thản nhiên để cho tham tâm khởi, si tâm, kiêu căng, ngã mạn khởi. Kết quả họ là phải chuốc lấy nhiều phiền muộn, ray rứt ân hận đè nặng lên tâm thức hằng ngày, hằng giờ, từng phút, từng giây không bao giờ nguôi.

Trong mối tương quan tương duyên giữa thân và tâm quyện vào nhau thì những nỗi bất an hoặc sự an lành của thân và tâm khó mà trình bày một cách tách bạch. Hơn nữa, vấn đề cảm nhận còn tùy vào nhận thức và khả năng tu tập.

Trình bày một cách giản lược, thì sự bất an và an lành được tác động trên hai lãnh vực là bên ngoài và chính tự trong ta.

Những cái bất an đau khổ từ bên ngoài đưa đến, đó là sự bất an của hoàn cảnh, như bị tai nạn, bị đánh đập, tai trời vạ người. Muốn tránh, ta phải có những hành động thích ứng để đem lại an lành. Nếu bị bất an do đói rét, ta phải tìm công ăn việc làm, phải cần mẫn, làm việc có phương pháp để đem lại cơm no áo ấm. Khi thân nhuốm bệnh, ta phải điều trị, uống thuốc, biết đi dưỡng và đề phòng.

Còn sự bất an chính tự trong ta là những sầu, bi, khổ, ưu, não. Muốn tránh những bất an ấy, ta phải trì tụng kinh chú, tức là trau giồi tâm ta bằng cách tu tâm dưỡng tánh, thực hành theo giáo lý của Đức Phật dạy. Như đau khổ vì tham tâm, ta cố gắng tu pháp môn bố thí. Quán rõ thật tướng của vạn pháp là vô thường, khổ, vô ngã cho lòng tham lắng xuống. Khi sân làm ta đau khổ, thì phải tu pháp quán từ bi, tu pháp nhẫn nhục, để đập tan ngọn lửa sân hận đang hừng hực đốt cháy từ tâm của ta. Nếu đau khổ vì si mê tật đố, ta phải tu pháp quán nhân duyên, để nhận thức rõ ràng tất cả sự vật đều do nhân duyên giả hợp, là trống rỗng, là hư dối, chứ không phải là chắc chắn như ta tưởng. Khi đã quán rõ được các pháp như vậy, thì tự nhiên tâm bỉ thử, tật đố lắng xuống nhường chỗ cho một nhận thức rộng rãi hơn, sáng suốt hơn, không bị cái bỉ thử, tham lam chấp thủ làm điên đảo.

Giải trừ được sự tác động của tham, sân, si trong tâm, đó là cách cầu an làm cho tâm hồn nhẹ nhàng trong sáng.

Ngài Thần Quang đến cầu xin Tổ Bồ-đề-đạt-ma an tâm cho mình, cũng chính vì lẽ này.

Thần Quang là một cao tăng Trung Hoa, sau khi mệt nhọc lặn lội tìm đến gặp Tổ Bồ-đề-đạt-ma đang ngồi lặng nhìn vách tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, ân cần tha thiết van xin Tổ giải thoát nổi thống khổ ray rứt của lòng mình, nhưng Tổ vẫn yên lặng, lầm lì thản nhiên một cách tàn nhẫn. Thần Quang không nản chí, đứng suốt đêm giữa tuyết với đôi mắt long lanh, hoài vọng. Tổ cảm thấy động lòng, liền hỏi:

– Ngươi đến đây để cầu việc gì?

Thần Quang rưng rưng nước mắt vội thưa:

– Bạch Thầy, tâm con không an, xin Thầy an tâm cho.

– Người hãy đem tâm ngươi ra đây, ta an cho.

Thần Quang sửng sốt một hồi lâu, rồi thưa tiếp:

– Bạch Thầy, con kiếm tâm mà chẳng thấy đâu cả.

Tổ đáp:

Đó, ta đã an tâm cho người rồi đó (Vô môn quan).

Đây là một cách an tâm thâm thúy nhất trong muôn vàn cách an tâm mà Đức Phật đã dạy, được ghi lại thành văn và không thành văn. Nếu ai có một tâm hồn tha thiết cầu an tâm và biết tiếp thu thấu đáo pháp an tâm của Đức Phật thì chắc chắn cũng được an tâm như ngài Thần Quang.

Vậy vấn đề cầu an không phải chỉ một mực cầu an thân mà bỏ mất sự cầu an nơi tâm hồn. Nếu thân không có tâm thì đó là một đống thịt, một xác chết. Cho nên, thể xác được an lạc khi có sự cảm nhận ấy của tâm thức, và cấp độ an lạc cũng tùy thuộc vào sức mạnh của tâm thức. Như có người dù bệnh nhẹ, nhưng tâm hồn yếu đuối, khiếp nhược thì nỗi khổ đau của cơn bệnh sẽ tăng gấp bội. Và ngược lại, người bị bệnh nặng, nhưng với tâm thức bình tĩnh sáng suốt, có ý chí vững mạnh, không giải đải buông xuôi, thì nỗi khổ đau của cơn bệnh cũng được giảm thiểu. Với sức mạnh của tâm hồn, tức là tâm an lạc, có tác động làm vơi đi những khổ đau ở thân xác.

Ở đời thường có hai hạng người sống theo hai lối sống thái quá: – Có hạng chỉ chú trọng cưng dưỡng thân xác, tạo an lạc cho thân xác bằng sự thỏa mãn những ham muốn nhục dục. Lại có hạng quá khổ hạnh bằng sự tiết chế tất cả những nhu cầu tối thiểu và tự hành hạ thân xác. Đó chỉ là những lối sống không trung đạo, thiếu cân bằng mà ngày xưa Đức Thế Tôn đã từ bỏ và cấm các đệ tử thực hành.

Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên cho năm vị Tỷ-kheo, câu mở đầu Ngài dạy rằng:

Có hai thái cực cần phải tránh xa:

– Thái cực thứ nhất là sống xa hoa trụy lạc vật dục, đó là lối sống thấp hèn, không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.

– Thái cực thứ hai là sống ép xác khổ hạnh, nhịn ăn nhịn mặc, chịu đói chịu rét, đứng giữa trời, nóng lạnh hành hạ, thì đó cũng là lối sống tà vạy không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.

Đức Phật khuyên cần phải tránh xa hai lối sống ấy để tu hành mới đưa đến giải thoát. Như vậy Ngài không phủ nhận đời sống về thể xác, nhưng Ngài cũng không tán dương cái lối sống tham đắm vật chất, chỉ biết chú trọng đến thân mà không chú trọng đến tâm. Lời dạy của Đức Phật nhắc nhở cho tất cả ai muốn đi trên con đường an lạc, thì trước nhất phải có lối sống quân bình, chứ không phải bỏ ăn, bỏ làm, ghét bỏ của cải hoặc phung phí của cải, nhưng phải biết sống không say mê vật chất, không say mê theo đời sống dục lạc, xa hoa, không tìm hạnh phúc, không chôn vùi cuộc đời vào cần sa thuốc phiện, chén rượu sòng bạc. Đức Phật đã bỏ quốc thành, thê tử đi xuất gia là dạy cho chúng ta bài học đó. Nhiều tiền chưa hẳn có hạnh phúc, chức trọng quyền cao chưa chắc có hạnh phúc. Các yếu tố vật chất chỉ là những phần phụ thuộc, còn cái hạnh phúc chân thật bao giờ cũng chính là trong lòng chúng ta.

Giảm bớt tham, sân, si là cách để an tâm hiệu quả nhất.

Khi lòng ta khởi tham lam do bị tiền của chi phối, bị quyền lợi danh vọng chi phối, thì tấm lòng của ta trở nên hẹp hòi ích kỷ, khi đã ích kỷ thì nó không thể trải rộng để hứng lấy những hạnh phúc cao thượng, chân thật được. Bởi vậy, trên bước đường tu tập cầu giải thoát an lạc, người Phật tử phải chú trọng tu tập cả hai mặt thể xác lẫn tâm hồn. Với thể xác luôn luôn phải biết tri túc, cần có cơm đủ no, mặc đủ ấm, cần đủ những tiện nghi tối thiểu mà không nên hưởng thụ tham đắm vật chất tức là phải sống quân bình không để rơi vào hai thái cực như Phật đã dạy. – Với tinh thần, phải giữ cho tâm hồn luôn luôn được trong sáng, được rộng rãi. Người Phật tử càng biết mở rộng từ bi tâm, càng diệt trừ được chấp thủ, tham ái thì càng có hạnh phúc chân thật. Khi tâm hồn không trong sáng nhiều tham đắm thì dù ở trên vàng trên bạc họ vẫn không cho là đủ, vì còn mong cầu là còn khổ. Hạnh phúc chỉ đến với những tâm hồn biết tiết chế, có đạo đức cao cả, có tu tập theo giáo pháp Đức Phật, sống trong sáng, hướng thiện, sống vô tham, biết đủ như trong kinh Di Giáo đã dạy: “Người nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm an vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường vẫn không vừa ý”.

Chúng ta nhìn lên gương chư Tổ đức, quý ngài có đời sống vật chất rất đơn sơ, đạm bạc, thế mà tâm hồn quý ngài rất tự tại, rất khoan khoái, rất an nhiên vui vẻ. Không hề thoáng những nét cau có, giận hờn hoặc buồn rầu. Vì sao như vậy? Bởi vì tâm hồn của quý ngài đã lướt trên tất cả những tầm thường của đời sống thế gian, đời sống của tham lam ích kỷ. Quý ngài đã làm chủ được tâm, điều phục được tâm, để tâm không bị chi phối bởi ngoại cảnh, bởi tham, sân, si, nên đối trước hoàn cảnh nào quý ngài vẫn tự tại an vui. Đúng là “Tâm bình thế giới bình, tâm xuân vũ trụ xuân”.

Cho nên Phật đã dạy: “Tự tại với tâm, tự tại với pháp”. Thường chúng ta chỉ đi tìm sự an bình trong thế giới hiện tượng, tìm nguồn vui trong vũ trụ vật chất luôn chuyển biến vô thường, nên chúng ta chỉ nắm bắt được những bào ảnh an lạc. Và chính cái lạc ấy lại là nhân của cái khổ, nhân quả quả nhân, mãi vận hành, trong quá trình sinh tử.

Có một hôm, Đức Thế Tôn ngồi một mình trên đám cỏ, một người đi qua thấy vậy liền hỏi:

– Sa-môn Cù-đàm có sầu muộn hay sao mà ngồi một mình cô độc thế?

Đức Phật trả lời:

– Ta mất gì mà Ta sầu muộn?

Ông ta lại hỏi:

– Nếu không sầu muộn thì chắc là Ngài hoan hỷ, mà hoan hỷ thì sao lại ngồi cô độc một mình?

Ngài lại trả lời:

– Ta được gì mà Ta hoan hỷ?

Người đó ngạc nhiên hỏi lại:

– Không sầu muộn thì hoan hỷ, không hoan hỷ thì sầu muộn. Ngài không hoan hỷ, không sầu muộn là nghĩa làm sao?

Ngài trả lời rằng:

-Hoan hỷ chỉ đến với người có tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người có tâm hoan hỷ. Ta đã dứt bỏ nguồn gốc của sầu muộn rồi, cho nên Ta không sầu muộn, cũng không hoan hỷ. Tâm ta không dao động.

Qua lời dạy ngắn gọn, nhưng hàm chứa một ý nghĩa thâm sâu vô cùng, giúp ta soi rọi vào thực tế cuộc đời để thấy rằng: hoan hỷ là điều người đời mong muốn, và chỉ đạt sự mong muốn qua sự nắm bắt, chấp thủ, như mong cho được trúng số độc đắc, mong sự ước muốn tìm cầu của cải vật chất, như vậy thì cái hoan hỷ đó là những hoan hỷ đi đến với người có tâm thiếu thốn và sầu muộn, và sau hoan hỷ đó chắc chắn là những sầu muộn âu lo của mất mát. Như người vừa trúng số thì sung sướng vô cùng nhưng liền sau đó không khỏi lo sợ bà con biết sẽ đến xin, đến mượn, hoặc bị mất, hoặc bị cháu con tranh giành làm mất hòa khí gia đình. Nếu cố giấu không cho ai biết thì cũng phập phồng sợ người ta biết.

Tham cầu là một nỗi khổ, khi thành đạt là một sự hoan hỷ, rồi mất mát lại là một nỗi khổ. Sầu muộn rồi hoan hỷ, hoan hỷ rồi sầu muộn cứ nối đuôi nhau mãi.

Có người đang cồn cào vì cơn đói, đang khổ vì đói, nếu ai đem cho ổ bánh mì thì họ rất sung sướng, rất hoan hỷ. Thế là hoan hỷ đi đến với người có tâm sầu muộn.

Có người trong ngày Tết mặc chiếc áo đẹp, đang hoan hỷ trong chiếc áo đẹp, bỗng bị một kẻ tinh nghịch ném pháo làm áo bị rách, loang lỗ làm người ấy tức tối, sầu muộn, như vậy là sầu muộn đi đôi với người có tâm hồn hoan hỷ.

Cuộc đời chúng ta cứ mãi diễn đi diễn lại, hoan hỷ rồi sầu muộn; sầu muộn rồi hoan hỷ. Ngày qua tháng lại. Suốt cả cuộc đời mãi loanh quanh ở trong cái vòng, cái tâm lượng của chúng sanh phân biệt, so đo nhơn ngã mà có như thế.

Đức Phật, Ngài đã dứt hết nguồn gốc chấp thủ, tức là diệt hết nguồn gốc của khổ đau. Ngài luôn hoan hỷ, một sự hoan hỷ không tạo nên bằng tiền tài danh vọng, chức quyền mà là một sự hoan hỷ đã dứt sạch nguồn gốc khổ đau, tức dứt sạch vô minh, tham ái, chấp thủ. Bởi vậy, Ngài dạy: “Ta không hoan hỷ cũng không sầu muộn”. Nhưng chính cái không hoan hỷ không sầu muộn trong đối đãi ấy, mới là một sự hoan hỷ không thể diễn đạt bằng cái quan niệm so sánh, bỉ thử của nhị nguyên, của người trúng số đầy mong cầu và tham đắm.

Cái hoan hỷ của Đức Phật được tạo nên bằng trí giác ngộ, bằng tâm từ bi, lòng hỷ xả, đó là sự hoan hỷ vi diệu, vĩnh cửu. Một sự hoan hỷ phát xuất từ nội tâm của một người tu tập đã tự tại với nguồn tâm. Đó là sự hoan hỷ không bị ai cướp mất vì không phải giành của ai mà có được, nhưng lại ban bố cho tất cả.

Cho nên, hễ học Phật, chúng ta cố gắng xây dựng niềm hoan hỷ, an lạc bằng những công phu tu tập, trưởng dưỡng từ bi, khơi sáng nguồn tri giác, thì sự hoan hỷ an lạc đó đằng sau không nhuốm bóng dáng sầu muộn, sợ hãi.

Người có tu tập là người hiểu biết tâm, khi tham tâm khởi, sân tâm khởi, tâm kiêu mạn khởi, v.v… thì phải điều phục tâm, chế ngự tâm để trở thành tự tại, tâm giải thoát. Được thế, thì trước bất cứ một hoàn cảnh nào cũng được tĩnh giác, tâm không bị chi phối. Đã thế, ta lại còn chủ động, biết sử dụng mọi phương tiện, mọi đối cảnh, để phục vụ những mục đích cao đẹp. Làm chủ được đời sống cả vật chất lẫn tinh thần là cách sống an lạc, tự tại giải thoát.

Là người Phật tử còn sống trong tương quan giữa cuộc đời, chúng ta cần phải có tiền, cần có cơm ăn, áo mặc, cần có mọi tiện nghi cần thiết trong cuộc sống. Song cũng phải cần có từ bi hỷ xả, cần có trí tuệ, có bố thí, trì giới v.v…

Thực hiện lời Phật dạy để xây dựng bản thân và xã hội tốt đẹp là cách cầu an đầu năm thiết thực nhất, đem lại an lạc cho nhiều đời, hiện tại cũng như tương lai.

Chúng ta tụng kinh, lạy Phật cũng chỉ với mục đích trưởng dưỡng thiện tâm và tiến dần đến giải thoát tâm vậy.

HT.Thích Thiện Siêu

Technology