June 22, 2013

Doanh nhân Phật tử Vũ Văn Chầm (Vina Giầy)

Vũ Văn Chầm, chủ tịch Hội Giày Da thành phố Hồ Chí Minh, chủ tịch Hôi Đồng Quản Trị công ty cổ phần Giày Việt, thường được nhắc đến như ông chủ của thương hiệu giày da nổi tiếng Việt Nam-Vina Giày, nhưng ít ai biết được rằng ông còn là một người mộ đạo.

Ở cái tuổi 78, nghệ nhân Vũ Văn Chầm vẫn rất sắc sảo, đôi mắt tinh anh và cái nhìn đầy nhân từ đã xóa đi mọi khoảng cách khi được tiếp xúc với ông. Có lẽ chính đạo Phật đã làm nên một Vũ Văn Chầm như vậy.

Không biết từ bao giờ ông đã có niềm đam mê với đạo Phật, chỉ biết từ lâu Phật giáo đã như hơi thở cuộc sống của ông. Trên con đường đến với Phật giáo phải kể đến đó là người thầy vô cùng đáng kính của ông- Hòa Thượng Thích Minh Châu. Ông đã quy y trên 30 năm và tham học Phật Pháp với hòa thượng Thích Minh Châu nên hiểu biết rất sâu sắc về nền triết học siêu tuyệt của Phật giáo.

Nghe ông nói chuyện về chính tín, về vô ngã, về sắc và không, trong đạo Phật có lẽ người ta sẽ lầm tưởng ông là một vị hòa thượng hơn là một doanh nhân ngang dọc trên thương trường. Trong lĩnh vực kinh doanh cũng như trong cuộc sống đời thường ông luôn luôn lấy những triết lý nhà Phật làm kim chỉ nam để hành xử.

Ông nói : “theo triết lý Duyên Khởi của đức Phật: “Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái cái kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Như vậy tức là mọi thứ trên thế gian này đều có mối tương quan tương liên mật thiết với nhau. Con người cũng vậy, khi chúng ta làm tổn thương đến người khác thì đồng thời chúng ta cũng đang làm tốn thương chính mình, còn khi ta mang đến niềm vui cho người khác thì bản thân chúng ta cũng cảm thấy ấm áp, vui sướng và hạnh phúc. Con người ta ai cũng mưu cầu hạnh phúc nhưng mấy ai hiểu được rằng muốn có hạnh phúc ta phải biết cho đi… ”

Ông cho rằng làm việc thiện là một bổn phận của người Phật tử vì thế ông luôn âm thầm giúp đỡ, hỗ trợ những tổ chức từ thiện, những hoàn cảnh khó khăn, những mảnh đời bất hạnh… Năm 2000, trong khóa tu nghiệp ở Nhật về quản lý Chất lượng sản phẩm, ông đã tìm ra được con đường quản lý thành công và phát triển lâu dài cho các công ty, xí nghiệp đó là việc kết hợp giữa chất lượng con người và chất lượng sản phẩm thông qua việc kết hợp giữa biểu đồ Bát Chính Đạo trong Phật giáo và biểu đồ xương cá mà ông đã tiếp thu được từ các giáo sư Nhật.

Chính phát kiến này của ông đã là minh chứng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc cho việc đưa đạo vào đời của ông để ta hiểu được rằng đạo Phật không chỉ là một tôn giáo chỉ để cho nhân loại tin tưởng và suy ngẫm mà nó còn là một tôn giáo mang tính thực hành và có những đóng góp thực tế cho hạnh phúc của nhân loại.

Hiện nay, ông là một trong những thành viên có đóng góp tích cực cho sự phát triển của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Ông là trưởng ban bảo trợ của viên nghiên cứu Phật học Việt Nam nhiệm kỳ thứ VI(2007-2012) đồng thời kiêm giữ nhiều vai trò trong các ban Văn hóa, ban Kinh tế tài chính, … của Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Là người Phật tử mộ đạo, nên ông luôn coi trọng và hết lòng với cuộc sống gia đình. Ông luôn giáo dục và nhắc nhở con cái và những người thân của mình sống và hàh xử theo tinh thần từ bi và bao dung của đạo Phật. Ông quan niệm sự cố kết gia đình như sợi dây lạt,mềm mà buộc rất chặt, những giá trị đạo đức, tâm linh của đạo Phật chính là phương thuốc hữu hiệu để kết nối sự cảm thông và hoá giải những va chạm không thể tránh khỏi trong cuộc sống gia đình. Hạnh phúc gia đình là hạnh phúc quý giá, ta phải trân trọng, giữ gìn.

Tháng 9 này, tại lầu 11 tòa nhà Giày Việt Plaza, ông sẽ mở cửa phòng triển lãm về những hình ảnh và lời dạy trong kinh Phật. Đây sẽ là nơi giao dịch với đối tác, khách hàng… và cũng là nơi thú vị cho những ai có ý hướng tìm hiểu về đạo Phật.

Tôi nhớ ông Nguyễn Trần Bạt, chủ tịch Invest Consult Group trong cuốn sách Văn hóa và con người ông có nói rằng : “Mỗi thế hệ phải làm cho thế hệ sau tốt hơn”. Những người như doanh nhân Vũ Văn Chầm chắc chắn xứng đáng để thế hệ sau chiêm nghiệm và sống tốt hơn. Cuộc đời của ông sẽ như một cung trầm ngân vang góp phần làm tốt cho đời và đẹp cho đạo .

Theo Phật Tử Việt Nam

February 23, 2013

Steve Jobs, một Phật tử đã làm thay đổi diện mạo thế giới

GNO - Mấy ngày gần đây, hàng triệu người trên thế giới tiếc thương và cảm động trước sự qua đời của ông Steve Jobs. Ngay khi biết tin buồn về sự qua đời của Steve Jobs, rất nhiều mỹ từ đã được nhiều người sử dụng để ca ngợi ông. Sự qua đời của ông được nhiều người xem như là thiệt hại lớn cho nhân loại. 

Steve Jobs sinh ngày 24-2-1955 tại San Francisco, California, Hoa Kỳ. Cha mẹ ruột của Steve Jobs là ông Abdulfattah Jandali và bà Joanne Simpsom. Lúc Steve sinh ra thì hai người này là sinh viên mới ra trường, chưa kết hôn với nhau. Vì cha mẹ của Steve chưa có kết hôn với nhau, cho nên cậu bé Steve Jobs được cho người ta nhận làm con nuôi. Cha mẹ nuôi của Steve Jobs là Paul và Clara Jobs. Tuổi thơ của Steve Jobs gắn bó với vùng thung lũng Silicon. 

Càng lớn, Steve càng tỏ ra tò mò đối với những thiết bị điện tử và tỏ ra có năng khiếu về lĩnh vực này. 

Vào năm 1973, Steve Jobs vào học đại học, được một học kỳ thì ông bỏ học và đi làm. Sau đó, năm 1974, ông cùng một người bạn đi qua Ấn Độ để tầm sư học đạo, tìm cầu sự giác ngộ. Một thời gian sau, Steve trở về lại Hoa Kỳ, tiếp tục công việc trước đó và thường xuyên đến Trung tâm Thiền Los Altos (Los Altos Zen Center) để học thiền với Thiền sư Kobun Chino Otogowa. 

Chính Thiền sư Kobun đã nhìn thấy được khả năng của Steve Jobs trong lĩnh vực công nghệ điện tử nên đã khuyên Steve Jobs theo đuổi công việc của mình chứ không nên xuất gia. Thiền sư Kobun sau này trở thành cố vấn tâm linh chính thức cho Công ty NeXT, và làm lễ hằng thuận cho Steve và Laurene vào năm 1991. Thiền sư Kobun là một trong những người có sự ảnh hưởng quan trọng đến nhân cách, nếp sống và khả năng sáng tạo của Steve. 

Vào năm 1975, Steve và một người bạn là Woz đã cho ra đời cái máy vi tính cá nhân đầu tiên, gọi là Apple I. Và kể từ đó tên tuổi của Steve đã gắn liền với những phát minh và những sản phẩm công nghệ cao của Apple. Steve Jobs là người đồng sáng lập của Công ty Apple. Bên cạnh đó, Steve còn giữ các chức vụ chủ chốt trong những công ty lớn khác. Vào năm 1997, Steve trở thành Giám đốc điều hành lâm thời của Apple. Năm 2000 trở về sau, Steve chính thức trở thành Giám đốc điều hành của Apple, đã lèo lái Apple trở thành một công ty siêu cường và cho ra đời những sản phẩm công nghệ cao làm thay đổi diện mạo của thế giới. 

Vào tháng 10-2003, trong một lần khám sức khỏe định kỳ, bác sĩ phát hiện một khối u đang lớn dần lên trong tuyến tụy của Steve. Sau khi phát hiện khối u ác tính, trải qua một thời gian dài theo dõi và suy nghĩ, cuối cùng Steve quyết định không giải phẫu mà chỉ thực tập một chế ăn kiêng do ông tự đặt ra. Với chứng bệnh ung thư tuyến tụy như thế thì người bệnh rất mau qua đời. Nhưng đối với Steve thì không. 

Từ khi phát hiện cho đến năm 2010, Steve vẫn sống và làm việc bình thường. Mãi cho đến tháng 1-2011, do tình trạng sức khỏe không được tốt, Steve đã xin nghỉ phép dài hạn để chữa trị. Vào tháng 8-2011, Steve Jobs đã chính thức gởi thư xin từ bỏ chức vụ Giám đốc điều hành Công ty Appleđến Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên của công ty. Sau đây là nội dung bức thư xin từ chức của Steve Jobs: 

“Kính gởi Ban Giám đốc Công ty Apple cùng toàn thể nhân viên của Apple. 

Tôi thường hay nói, nếu có một ngày nào đó mà tôi không thể nào đảm trách được những nhiệm vụ, và không thể thực hiện những hoài bão của mình trong vai trò một người giám đốc điều hành Công ty Apple, thì tôi sẽ là người đầu tiên báo cho mọi người biết. Thật không may là ngày đó đã đến. 

Nay tôi viết thư này để xin từ bỏ chức vụ Giám đốc điều hành của Apple. Nếu Ban Giám đốc thấy phù hợp thì tôi xin làm việc cho công ty trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị, hoặc là giám đốc, hay là nhân viên của Apple. 

Theo như những gì người kế nhiệm tôi đã thể hiện, tôi đề nghị chúng ta thực hiện kế hoạch kế tiếp của mình và chính thức bầu ông Tim Cook làm Giám đốc điều hành của Apple. 

Tôi tin rằng những ngày tươi sáng nhất và đổi mới nhất của Apple đang ở phía trước. Và tôi mong muốn được nhìn nhận, đóng góp vào thành công của công ty trong vai trò mới. 

Tôi đã có được những người bạn tốt nhất trong cuộc đời của mình tại Apple, và tôi chân thành cảm ơn tất cả mọi người vì chúng ta đã làm việc cùng nhau trong suốt nhiều năm qua”. 

Đến ngày 5-10-2011, Steve Jobs đã qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Trước sự ra đi của Steve Jobs, rất nhiều người thuộc đủ mọi quốc gia, mọi tầng lớp, sắc tộc, tôn giáo,... đã bày tỏ tình cảm, sự quý mến, cảm phục của mình đối với Steve Jobs theo nhiều cách khác nhau. Để đáp ứng nhu cầu bày tỏ tâm tư, tình cảm của công chúng đối với Steve Jobs, Apple đã nhanh chóng xây dựng một trang web với tên miền là Prayforsteve.com (Cầu nguyện cho Steve).  

Trên trang web Allaboutstevejobs.com cũng có tạo trang blog để cho người đọc có thể viết vào đó. Ngay trên trang web của Công ty Apple (apple.com), họ đã dành toàn bộ không gian của trang chủ để đăng hình ảnh và tên tuổi của Steve Jobs như là một cách để tưởng nhớ, để tri ân một người đồng sáng lập công ty, một người đã có những đóng góp tối quan trọng cho sự thành công và nổi danh của Apple. 

Trên trang web Bambosi.com có đăng một bài tổng hợp những lời nhận xét, bày tỏ tình cảm đối với Steve Jobs của các nhân vật nổi tiếng trên thế giới. Sau đây chúng tôi trích lời của một vài nhân vật: 

Mark Zuckerberg, người sáng lập và là Giám đốc điều hành Facebook, đã viết trên trang Facebook cá nhân rằng: “Steve, cảm ơn anh vì anh đã làm một người cố vấn cho tôi và còn là một người bạn. Cảm ơn anh đã cho chúng tôi nhận thấy rằng, những gì anh xây dựng có thể thay đổi thế giới. Tôi sẽ nhớ anh”. 

Bill Gates, người đồng sáng lập và là Chủ tịch của Microsoft, đã nói trong một bài phát biểu rằng: “Steve và tôi gặp nhau lần đầu tiên cách đây gần 30 năm, và đã trở thành các đồng nghiệp, đối thủ cạnh tranh và là những người bạn của nhau trong suốt thời gian dài hơn nửa đời người của chúng tôi. Thế giới hiếm khi thấy một người có tác động sâu sắc như Steve đã làm, những hiệu quả từ những điều mà Steve đã làm sẽ được nhiều thế hệ sau này tiếp tục cảm nhận. Đối với những ai có may mắn được làm việc với anh thì đấy là một vinh dự tuyệt vời”. 

Bob Iger, Giám đốc điều hành của Công ty Walt Disney, cho biết: “Steve Jobs là một người bạn tuyệt vời và là người cố vấn đáng tin cậy. Di sản của anh sẽ được mở rộng xa hơn các sản phẩm mà anh đã tạo ra và cả các doanh nghiệp mà anh đã xây dựng. Steve đã tạo cảm hứng cho hàng triệu người, đã làm thay đổi hàng triệu cuộc sống”. 

Michael Bloomberg, Thị trưởng thành phố New York, phát biểu: “Steve Jobs là một thiên tài, là người sẽ được toàn thế giới tưởng nhớ cùng với Edison và Einstein. Những ý tưởng của anh sẽ định hình thế giới trong nhiều thế hệ”. 

Tổng thống Mỹ, ông Barack Obama, đã nhận định: “Có lẽ không có tặng phẩm nào dành cho Steve vĩ đại hơn so với sự thật là có rất nhiều người trên thế giới đã biết được tin về sự qua đời của anh ngay trên những thiết bị mà anh đã phát minh ra”. 

Mặc dù Steve rất thành công trong phát minh, sáng tạo và trong kinh doanh như thế, nhưng ông không hề tự cao, không cảm thấy tự hào về bản thân, ngược lại ông rất khiêm tốn và biết chia sẻ, giúp đỡ mọi người, thân thiện với đồng nghiệp và với đối tác của ông. Trong một bài phóng vấn đăng trên báo Businessweek vào năm 2004, Steve đã nói: “Chúng tôi làm những việc mà ở đó chúng tôi thấy mình có thể có sự đóng góp đáng kể. Và mục đích chính của chúng tôi không phải là để trở thành người lớn mạnh nhất và giàu có nhất”. 

Dù Steve sở hữu một lượng tài sản khổng lồ, nhưng cuộc sống của ông khá đơn giản, như lời John Sculley, Giám đốc marketing của Pepsi, đã phát biểu với báo Businessweek năm 2010: “Steve là một người sống giản dị. Tôi nhớ khi đi tôi vào nhà của Steve, anh hầu như chẳng có bất cứ đồ nội thất nào cả. Anh chỉ có một bức tranh của Einstein, người mà anh vô cùng ngưỡng mộ, một cây đèn tifany, một cái ghế và một cái giường”. 

Steve Jobs là một con người của thời đại, một người Phật tử hiểu đạo và có sự hành trì. Ông đã vượt qua tất cả những chướng ngại trong cuộc sống để cống hiến cho cuộc đời, làm thay đổi cuộc sống của hàng triệu người. Steve Jobs đã ra đi nhưng những đóng góp của ông vẫn còn đó, hàng triệu người trên thế giới vẫn luôn nhớ về ông, vẫn được lợi lạc từ những phát minh của ông. 

Minh Nguyên
Sources:Giacngo.vn

February 1, 2013

Chị “học bổng” của sinh viên nghèo

GN - Chị là Phật tử thích làm từ thiện - là người thường xuyên đem những phần học bổng “cứu cánh” về tặng cho sinh viên nghèo.

Trong vòng 8 năm, chị đã đem 1.312 suất học bổng trị giá hơn 202.600USD giúp các bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được thêm cơ hội đến giảng đường. Người làm cầu nối cho những ước mơ đó chính là Đặng Minh Phương (PD: Quảng Phú) nhưng các bạn sinh viên vẫn quen gọi chị với cái tên trìu mến là chị Phương “học bổng”! 

Phật tử Quảng Phú (phải) trao học bổng cho sinh viên Lý Duy Huynh - Ảnh: Hạnh Ý

Trong buổi trao học bổng tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, nhận được phần học bổng vừa được chị Phương trao tặng, bạn Lý Duy Huynh, sinh viên khoa Quản trị kinh doanh chuyên ngành Du lịch và Dịch vụ (Trường Đại học Cần Thơ) chia sẻ: “Không có chị Phương là em khó vững bước trên giảng đường đại học. Chị Phương giúp đỡ em rất tận tình, ngoài xin học bổng VietHope cho em, chị còn giới thiệu xin cho em học bổng từ Tổ chức Fund. Giờ em đi học mà không còn lo tiền học nữa, lúc trước em nơm nớp lo sợ không biết mình phải dừng việc học lúc nào”.

Tâm sự của Duy Huynh cũng chính là một trong những lý do thôi thúc chị Phương miệt mài, không bỏ qua bất cứ cơ hội nào có thể để đem những phần học bổng về tặng cho những bạn đang cần đến. Chị bảo: “Cách đây 10 năm, lúc mình mới ra trường, chứng kiến nhiều bạn sinh viên năm nhất phải rời ghế giảng đường; bỏ dở dang ngành học mơ ước chỉ vì không có tiền đóng học phí, mình thấy thương quá.

Lúc đi chùa, mình thường nguyện, có cơ hội nhất định sẽ giúp các bạn. Vậy là khi người bạn bên Mỹ muốn làm việc gì đó giúp ích cho quê nhà, mình liền ngỏ lời, thuyết phục tặng học bổng, chắp cánh ước mơ cho cô cậu nhà nghèo hiếu học. Rồi nguyện vọng tha thiết đó của mình cũng được VietHope - tổ chức phi chính phủ do một nhóm các bạn trẻ Việt kiều học ở Harvard-Boston hỗ trợ”.

Từ ngày được sự hỗ trợ của VietHope, chị và các bạn trẻ cùng chí hướng cất công đến các trường tìm những hoàn cảnh khó khăn để chia sẻ. Đi và thấy có nhiều bạn cần được giúp, trong khi quỹ VietHope thì có giới hạn, vậy là chị tự vận động, tìm đến những tổ chức phi chính phủ khác như Fund hay các đối tác làm ăn để xin thêm học bổng cho các bạn sinh viên nghèo khó.

Có những lúc, có nhiều hoàn cảnh khó khăn đang đợi tin giúp đỡ từ chị, những dòng email cứ đầy dần trong hộp thư với những hồ sơ dày cui, đẫm nước mắt của những bạn sinh viên nghèo gửi đến... Vậy là chị bỏ cả việc làm, nghỉ phép để đi vận động giúp các bạn sinh viên kịp đóng tiền học!

Làm việc không công, vất vả, thậm chí ảnh hưởng đến việc mưu sinh là vậy nhưng chị tâm niệm: “Khi mình có thể giúp đỡ được ai đó khó khăn hơn mình bây giờ, mình thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.Trước đây khi học đại học, bản thân mình cũng đã từng nhận được sự giúp đỡ từ các mạnh thường quân. Mình thấu hiểu được cảnh không tiền đóng học phí là như thế nào nên khi thấy các thế hệ sau mình rơi vào hoàn cảnh tương tự mình năm xưa, mình thật tâm muốn giúp”.

Trong dòng bộc bạch ấy, chị cho biết thêm: “Tham gia hoạt động làm học bổng, dù mất thời gian nhưng bù lại mình có được rất nhiều niềm vui. Nhất là khi nhìn thấy nụ cười bừng sáng trên mặt các em sinh viên khi các em nhận được một khoản tiền có thể giúp các em đóng học phí, mua sách vở... 

Có những lúc mình đi đường, hay ở trong một đám đông nào đó, có người chào mình và nói: chị Phương ơi, em là sinh viên đã được nhận học bổng; nhờ học bổng chị giúp mà giờ em đã tốt nghiệp, ra trường, có việc làm và đủ tiền nuôi mấy đứa em đi học... Niềm vui đó không sao diễn tả được!”.

Hạnh Ý

January 15, 2013

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đạo Phật đã giúp tôi tìm được nhiều hài cốt

Năm 1990 tôi bắt đầu công việc tìm kiếm hài cốt người đã mất bằng khả năng đặc biệt của mình...

Là nhà ngoại cảm tầm vóc nhất hiện nay tại Việt Nam, có công phát hiện trên 10,000 hài cốt, Phan Thị Bích Hằng pháp danh Tuệ Đức, cho biết ăn chay, niệm Phật, tụng kinh là các phương tiện tốt hỗ trợ chị tìm ra các hài cốt trong những điều kiện và hoàn cảnh khó tìm nhất.

Trong buổi cùng thuyết trình với thầy Thích Nhật Từ tại chùa Hoằng Pháp vào ngày 25-3-2007, chị mặc áo tràng rất trang nghiêm. Xin chị cho biết cơ duyên nào đã giúp chị đến với đạo Phật?

Cơ duyên đến với đạo Phật của tôi là một sự tình cờ. Tôi vốn được sinh ra trong một gia đình gia giáo nên được ông nội dạy phải biết kính Phật, trọng Tăng, nên từ nhỏ tôi rất sùng tín đạo Phật. Tháng nào tôi cũng đi lễ chùa. Khi buồn hay căng thẳng tôi rất thích đến chùa, quỳ trước Tam bảo để tĩnh tâm.

Thuở đó, tôi chưa nghĩ đến việc quy y vì ngộ nhận rằng quy y là việc của người già, còn người trẻ làm sao giữ được 5 điều đạo đức; quy y mà không giữ trọn vẹn giới pháp sẽ đắc tội với Phật. Do vì thiếu tự tin và sợ, tôi không dám quy y.

Đúng ngày Phật đản PL.2551 tôi gặp chuyện không vui nên tôi đi lễ tại một ngôi chùa lớn ở TP.HCM. Như mọi lần, tôi chắp tay lạy Phật và "giải bày tâm sự" trước bàn thờ Tổ. Tôi thấy một làn gió rất thơm, phảng phất trước mặt và có giọng nói rất ấm áp, trìu mến: Con đừng bi luỵ, con là người có rất nhiều công đức, con đã quy y chưa? Tôi ngỡ ngàng trả lời: Con chưa quy y. Giọng nói trìu mến lại vang lên: Con quy y đi, con có hạnh Bồ-tát. Là con của Phật, Phật sẽ gia hộ cho con. Tôi hỏi: Ai sẽ quy y cho con? Người ấy trả lời: Ta sẽ quy y cho con, ta đặt pháp danh con là Tuệ Đức. Tôi thưa: A-di-đà Phật. Thầy là ai vậy? Cụ nói: Ta ở trước mặt con. Tôi ngước lên thì thấy bóng áo vàng đã khuất sau tấm ảnh nhà sư trụ trì chùa. Chỉ còn ánh mắt cụ đang trìu mến nhìn tôi và mùi hương vẫn còn phảng phất.

Ngay sau đó, tôi trình sự việc với sư ông ở chùa và được sư ông làm lễ quy y trên điện Phật ngay. Từ đó, tôi chính thức trở thành Phật tử Tuệ Đức.

Đến nay, chị đã có công phát hiện trên 10,000 hài cốt mất tích. Công đức này là vô lượng. Riêng năm 2009, chị đã phát hiện hơn 1.000 hài cốt tại Phú Quốc và nhiều nơi khác. Xin chị cho biết, bằng cách nào chị có thể làm được việc này, trong khi tại Việt Nam hiện nay còn có hàng trăm nhà ngoại cảm khác, nhưng lại không phát hiện được?

Năm 1990 tôi bắt đầu công việc tìm kiếm hài cốt người đã mất bằng khả năng đặc biệt của mình. Những nhà yêu nước và liệt sĩ là đối tượng, tôi luôn đặt ưu tiên lên hàng đầu. Trải qua 20 năm làm việc không mệt mỏi, tôi thấy tôi sinh ra là để thực hiện sứ mạng thiêng liêng đối với những người đã ngã xuống vì đất nước.

Tôi làm công việc này bằng cả tấm lòng và cam kết. Động lực lớn lao thôi thúc tôi, giúp cho tôi vượt qua bao gian khổ, khó khăn nắng núi, mưa rừng để đi tìm liệt sĩ chính là những giọt nước mắt bà nội, bà ngoại tôi khóc cho các bác tôi mỗi ngày 27.7, cũng như những dòng nhật ký bốtôi viết cho mẹ trong những năm tháng bốở ngoài mặt trận. Những dòng chữ mực Cửu Long trên giấy ốvàng tôi đã đọc thuộc lòng từ khi mới biết bập bẹ ghép vần.

Qua những trang nhật ký tôi hiểu được sự mất mát hy sinh, nỗi đau không gì bù đắp được mà chiến tranh đã gây ra, và tôi đã nguyện cống hiến khả năng cao nhất để góp phần chia sẻ nỗi đau chiến tranh của đất nước, trong đó có gia đình tôi. Có lẽ chính vì tình cảm, tâm nguyện đó mà tôi đã có cơ duyên nhiều hơn với những người đã khuất.

Tôi luôn được các liệt sĩ về dẫn dắt, chỉ bảo. Việc tìm thấy trên 1.000 hài cốt liệt sĩ ở Phú Quốc cũng là do cơ duyên mà cựu tù Phú Quốc Nguyễn Trọng Dư đã đến nhờ tôi đi tìm đồng đội, tôi đi theo tiếng gọi của tình đồng đội và sự trao gửi sứ mạng thiêng liêng của linh hồn các liệt sĩ cho tôi và chú Dư. Các nhà ngoại cảm khác chưa có cơ duyên đến đó nên không phát hiện ra. Chứ nếu đến đó, họ cũng có thể phát hiện ra.

Chị có thể cho biết có sự khác biệt nào chăng giữa phương pháp ngoại cảm của chị và các nhà ngoại cảm khác, chẳng hạn như bà Năm Nghĩa (BRVT) và Nguyễn Thị Phương ở Hàm Rồng, Thanh Hóa?

Mỗi người có một khả năng khác nhau. Khả năng của tôi là đối thoại với hương linh để nhận thông tin, hình ảnh và sự hướng dẫn của hương linh để tìm hài cốt. Em Phương thì các hương linh nhập trực tiếp vào, mượn thể xác của Phương để giao lưu với người sống. Còn cô Năm Nghĩa thì tôi chưa có dịp tìm hiểu nên không rõ về sở trường của cô ấy.

Đối thoại với hương linh hình như là cách giúp chị phát hiện thêm các hài cốt bị mất tích và quên lãng. Vậy, phương pháp thấu thị mà chị đang sở hữu và sử dụng để tìm hài cốt mất tích có thể dẫn đến tình trạng chị không quan tâm chính đến cách giúp cho hương linh được siêu hay không? Nếu các hương linh siêu hết thì ai sẽ chỉ điểm cho chị trong các cuộc tìm kiếm hài cốt?

Sử dụng khả năng thấu thị để tìm hài cốt không ảnh hưởng gì đến sự giúp đỡ cho các hương linh siêu thoát. Qua 20 năm làm việc về ngoại cảm, tôi đã tiếp xúc với hàng chục ngàn các hương linh già, trẻ, trai, gái, người mới chết ít nhất là 7 ngày, người lâu nhất có tới mấy trăm năm, có những người rất dễ gặp, có những người rất khó gặp, cũng có những người không thể gặp được.

Có người gặp thì nhẹ nhàng như vừa thực hiện xong một cuộc phiên dịch. Có người gặp xong thì tôi như bị sốt rét. Còn phần lớn, gặp xong thì rất đau đầu và mỏi hai vai. Sau này tôi mới biết người như thế nào thì gặp nhẹ nhàng, người như thế nào thì đau đầu và người như thế nào thì sốt rét. chết đuối dưới nước là những người làm tôi bị sốt rét. Những người đã quy y cửa Phật, được con cháu tụng kinh chu đáo thì nhẹ nhàng, thanh thản.

Phần lớn các hương linh tôi tiếp xúc đều mong muốn được cầu siêu, vì vậy tôi luôn quan tâm tìm cách giúp họ siêu thoát. Từ năm 2005 đến nay tôi đã tham dự, tổ chức và đồng tổ chức trên 30 lễ cầu siêu quy mô lớn và hàng trăm lễ cầu siêu quy mô gia đình. Khi đã siêu rồi thì phần thể xác đối với các hương linh không còn quan trọng nữa nên tôi gặp nhiều khó khăn khi đi tìm họ. Trong trường hợp đó, tôi nhờ người thân của người mất chỉ dẫn trong các cuộc tìm kiếm. Trong thế giới chưa siêu thoát, quan hệ huyết thống và tình thâm như được thắt chặt hơn, họ quan tâm và biết về nhau nhiều hơn.

Nhiều hương linh hiểu đạo không đòi hỏi cúng kiếng, quần áo vàng mã (vì không hưởng thụ được) mà chỉ căn dặn con cháu hãy làm việc thiện và cầu nguyện nhiều cho họ để họ mau tái sinh. Ví dụ, năm 2008 trong đợt cầu siêu các anh hùng liệt sĩ và đồng bào tử nạn lần thứ nhất vào ngày 18,19 tháng 10 tại đảo Phú Quốc, tôi được mời ra dự lễ cầu siêu.

Trong lúc chuẩn bị làm lễ, tôi vào rừng tìm hài cốt liệt sĩ. Rất đông các liệt sĩ dẫn tôi vào tận rừng sâu, họ nói chuyện với tôi mà vẫn rên xiết, đau đớn vì bị đánh đập, tra tấn dã man, tù đầy lao khổ. Họ nói họ bị vùi chôn tập thể, chồng chất lên nhau. Họ thèm được ăn bát cơm gạo trắng thơm (vì trong tù toàn ăn cơm mục). Họ thèm được nhìn thấy cờ tổ quốc, thấy đồng chí đồng đội, thèm nghe tiếng chuông chùa. Cuộc trò chuyện thấm đẫm nước mắt. Chính nơi các liệt sĩ lên gặp tôi là nơi đã khai quật được hơn 1.000 hài cốt liệt sĩ.

Lễ cầu siêu lần thứ 2 vào 20, 21 tháng 12 năm 2008 các liệt sĩ lên không còn kêu la nữa mà là một cuộc nói chuyện hàn huyên với đồng đội đầy ắp niềm vui, tiếng cười. Họ nói với đồng đội là thèm được ngửi mùi mực nướng, thích ăn cơm cá liệt (là thứ cá mà chế độ trước cho tù ăn, còn gọi là cá hong lội, là "lôi họng" vì ăn không khéo xương móc vào họng phải lôi họng ra) hơn là cơm chay.

Lần cầu siêu thứ 3 vào 25, 26 tháng 7 năm 2009 các liệt sĩ về gặp tôi ít hơn và họ còn vui vẻ duyệt binh nữa. Rồi sau đó khi đi đào tìm các liệt sĩ thì họ nói: đừng tìm nữa, các bác các chú thanh thản lắm rồi, xương chôn chồng chất lên nhau, mục hết cả rồi; để nằm nguyên dưới đất thì còn nguyên vẹn, chứ bốc lên lại lẫn lộn hết. Vả lại, phần linh hồn đã được giải thoát rồi xác thân trả lại cát bụi thôi. Các bác còn vui vẻ hỏi nhau: "Chân mày lắp vào đầu ai vậy? Có đi được không?"

Qua 3 lần cầu siêu trong vòng 1 năm trời tại cùng một địa điểm là đảo Phú Quốc có lẽ phần lớn các hương linh đã được giải thoát và họ không còn phải đau khổ với thân trung ấm, cảnh giới trung gian giữa sống và chết.

Là nhà ngoại cảm nổi tiếng và có thành tích nhất hiện nay, đồng thời cũng là một Phật tử, xin chị cho biết Phật pháp có giúp ích gì trong công việc tìm kiếm hài cốt của chị không?

Phật pháp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong việc tìm kiếm hài cốt. Nhiều khi đi tìm kiếm quá khó khăn, tôi đọc kinh A Di Đà, kinh Địa Tạng, niệm Phật, ăn chay và nhờ đó mà tìm được. Có những khi tìm mấy ngày mà không tiếp xúc được với hương linh tôi cùng gia đình của các hương linh, tìm một ngôi chùa gần đó, vào xin nguyện cầu giải thoát cho hương linh, và nhờ thế lại tiếp xúc được họ.

Là người được quá nhiều người quan tâm, nhờ cậy nên tôi phải chịu rất nhiều áp lực từ nhiều phía, kể cả áp lực về dư luận xã hội, những điều thị phi, những người mượn danh tôi để lừa gạt kiếm tiền. Nhiều khi tôi thực sự bị stress và bị tổn thương nặng nề. Nhưng chính tấm gương của đức Phật, tinh thần từ bi hỷxả của đạo Phật đã giúp tôi vượt qua được mọi thị phi, tham sân si của đời thường để tập trung trí huệ vào công việc tìm kiếm hài cốt đạt kết quả cao hơn.

Vừa là nhà ngoại cảm, đồng thời cũng là giảng viên đại học, Chủ tịch Quỹ từ thiện Tâm vàng, xin chị cho biết các công việc này có trở ngại lẫn nhau không? Xin chị chia sẻ nghệ thuật sử dụng ngân quỹ thời gian của chị thế nào?

Thực ra, tôi chẳng có nghệ thuật nào. Tất cả những gì tôi làm là tâm huyết và tuỳ duyên thôi. Là người đóng nhiều vai trò, đảm đương nhiều chức năng, nhiệm vụ nên tôi thực sự bị kẹt giữa quỹ thời gian. Rất may Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ nơi tôi đang công tác đã đặc biệt ưu ái cho tôi về thời gian, nên tôi bớt những trở ngại trong các công việc khác. Dù sao trở ngại về thời gian là điều không thể tránh khỏi.

Ngày thường, tôi đến trường làm việc 8 giờ vàng ngọc như mọi người. Bắt đầu từ 8h30 sáng. Trong lúc làm việc, tôi vẫn phải dành thời gian nghe các cuộc điện thoại, hướng dẫn thủ tục tìm mộ và làm các công việc tâm linh.

Đôi khi đang làm việc, tôi phải dừng lại để chỉ đẫn tìm mộ cả mấy chục phút đồng hồ. Đồng nghiệp của tôi phải giải quyết công việc giúp tôi. Khi rảnh, họ còn rất thích thú ngồi nghe tôi điều khiển tìm mộ qua điện thoại. Có những khi đang ăn cơm trong bàn cùng mọi người, tôi vẫn phải chỉ nhặt xương này, xương kia. Lúc đầu các đồng nghiệp sợ sau rồi quen. Họ lại cùng chờ đợi, chia sẻ cảm giác vui sướng, hạnh phúc của những gia đình tìm thấy hài cốt ở đầu dây bên kia.

Sau giờ làm việc ở cơ quan, mỗi ngày tôi dành 4 giờđể tiếp nhận và xử lý hồ sơ của các thân nhân gia đình đến nhờ tìm mộ người thân. Đêm đến từ 11h đến 1, 2h là giờ tôi làm việc tâm linh. Ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật tôi hay đi tìm hài cốt tại thực địa. Một tháng một lần tôi đi làm từ thiện. Lần đi trao quà từ thiện ở tỉnh nào, tôi cũng kết hợp công tác tìm mộ liệt sĩ ở nơi có địa chỉ của chiến tranh.

Cuộc sống của tôi cứ như thế trôi qua với nhiều niềm vui trong bận rộn.

Chân thành cảm ơn chị và chúc chị có nhiều sức khỏe để phát hiện nhiều hơn nữa các hài cốt mất tích.

Source: Daophatngaynay.com

January 4, 2013

Khi Phật tử là doanh nhân

GNO - Khi Phật tử là doanh nhân thì doanh nhân ấy sẽ biết chọn một ngành nghề kinh doanh phù hợp, trên tinh thần của lời Phật dạy về chánh nghiệp. Nghĩa là, lĩnh vực ấy không tổn thương sanh mạng người khác, loài khác (như mua bán thịt động vật chẳng hạn). Những lĩnh vực thuộc dạng bất thiện (có hại cho người và vật khác từ sức khỏe, sanh mạng tới tinh thần, huệ mạng ở hiện tại và tương lai) sẽ không nằm trong danh sách lựa chọn của doanh nhân - Phật tử.

Tranh minh họa
Không những không chọn lĩnh vực bất thiện mà nếu có điều kiện, doanh nhân ấy còn ưu tiên kinh doanh những mặt hàng mang lại giá trị cho mọi người, góp phần truyền bá chánh pháp đến với số đông. Nhiều người băn khoăn vấn đề Phật tử kinh doanh các văn hóa phẩm Phật giáo liệu có phải là “buôn thần bán thánh” không. Riêng tôi, thấy vấn đề này là cần thiết để đem những hình ảnh, lời dạy của Đức Phật đến với đông đảo Phật tử cũng như mọi người có nhu cầu học Phật, tu theo Phật. 

Quan trọng là cái tâm làm việc đó, có phải chỉ là mưu cầu lợi lộc mà làm, duy nhất nhắm tới lợi nhuận mà không nghĩ tới yếu tố hoằng pháp. Nếu không hề có ý niệm hoằng pháp thì doanh nhân Phật tử ấy đã bỏ mất cơ hội nghĩ điều lành, và đương nhiên cũng mất cơ hội làm việc lành. Tiếc!

Khi chỉ nghĩ tới lợi nhuận mà kinh doanh thì tâm niệm làm việc hoàn toàn phục vụ mình mà thôi. Đó là ích kỷ và dễ trở nên gian dối, tàn nhẫn với khách hàng lẫn người cộng sự.

Khi Phật tử doanh nhân thì sẽ biết cách dùng người, khuyến tấn họ cùng mình hướng theo con đường thiện lành, nếu để họ cảm nhận được Phật giáo, biết đi chùa, học Phật làm lành, lánh dữ thì càng hay. Khi ấy, doanh nhân đó, bằng cái tâm từ bi-trí tuệ học được từ Phật sẽ ứng dụng trong các quan hệ với nhân viên. Sẽ không ra sức áp bức sức lao động mà biết tôn trọng, trân quý người nhân viên trên tinh thần biết ơn - một người cộng sự với mình, chứ không phải nghĩ họ là kẻ làm thuê, mình muốn sai khiến thế nào cũng được…

Khi Phật tử là doanh nhân thì lúc làm ăn có lợi nhuận liền nghĩ tới việc sẻ chia với cộng đồng. Sẻ chia trên tinh thần của lời Phật dạy, bố thí mà không nghĩ là mình ban ơn, không mong cầu đáp trả, cũng không toan tính thiệt hơn… Sự chia sẻ vô tư đó cùng với việc chia sẻ còn là nhắn nhủ cho họ những lời hay ý đẹp, dịu dụng từ lời Phật dạy để họ nhận món quà mà còn được nghe một bài pháp về sự khổ, vươn lên để bớt khổ, biết sẻ chia để gieo nhơn lành đặng thoát khỏi u minh, tăm tối nghèo nàn…

doanh nhân1.jpg
Chung tay phát triển, chung tay vì cộng đồng - Ảnh minh họa

Khi Phật tử là doanh nhân thì sẽ biết “ít muốn”, nghĩa là không quá tham lam, biết vừa đủ trong điều kiện cân bằng mọi thứ trong cuộc sống. Doanh nhân ấy sẽ không lao đi như say - cơn say kiếm tiền mà bỏ bê mọi thứ xung quanh, trong đó có gia đình, sự bình an trong tâm hồn mình. Nhiều doanh nhân làm nhiều tiền nhưng lại không có bình an là bởi không cân bằng được cuộc sống, nội tâm. 

Để có cân bằng đó, doanh nhân biết rõ nghĩa vụ của mình đối với gia đình, cộng đồng và với chính mình để còn quay về lo chuyện giải thoát bằng cách tu tập Giới-Định-Tuệ. Nghĩa là sẽ biết dành thời gian thiền định, biết nghiên cứu và ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, gìn giữ những nguyên tắc đạo đức cơ bản (giới luật)…

Và “ít muốn biết đủ” còn là cách sử dụng đồng tiền không phung phí quá mức, không phải chỉ với tài chánh cụ thể của mình và gia đình mà còn là với tương quan xã hội. Bởi vì doanh nhân ấy hiểu rõ một điều là xung quanh mình còn khó khổ, mình có phước làm doanh nhân thì cũng không vì thế mà phô trương, se sua để người khác phải tủi thân… Càng không thể vì chạy theo hình tướng hào nhoáng bên ngoài mà phung phí của cải, thay vào đó sẽ làm việc từ thiện như đã nói.

Khi Phật tử là doanh nhân… thì khi có thất bại cũng sẽ biết quán chiếu nhân quả, tháo gỡ những hao hụt tinh thần, những nỗi khổ niềm đau vì biết đó là vô thường, là lẽ tất nhiên để đứng lên gầy dựng từ đầu, bằng sự định tĩnh, thương mình, thương người. Khi thành công không tự mãn, khi thất bại thì không cay cú, lúc thăng hay trầm thì vẫn cứ khiêm cung, giản dị, biết nghĩ tới người khác, trau dồi nội tâm trở nên giàu có hơn!

Thiết nghĩ, đó mới chính là chân dung của một Phật tử chơn chánh, và cũng là một doanh nhân xứng tầm được nhân viên quý mến, đối tác tin tưởng…
Lưu Đình Long

January 2, 2013

Ông Phạm Nhật Vũ - Tổng giám đốc AVG: "Tôi vẫn lần tràng hạt mỗi ngày…"

Đầu húi cua, vẻ mặt nom ngầu nghì nhưng ánh mắt lại chân thành là ấn tượng ban đầu của tôi với Phạm Nhật Vũ.

Chúng tôi chủ định chỉ ngồi khoảng 30 phút nhưng rồi hơn 2 tiếng đồng hồ trôi qua. Tôi định tìm hiểu kỹ hơn về sự đầu tư của Phạm Nhật Vũ - Tổng Giám đốc An Viên Group - vào lĩnh vực cung cấp cơ sở hạ tầng cho truyền hình nhưng rồi chúng tôi lại chuyển sang chuyện đời, chuyện người từ lúc nào…

"Người kinh doanh sẽ chỉ thành công nếu họ làm cái gì mà họ thấy say mê".

"Chữ tín trong cuộc sống…"

Vũ đưa tôi danh thiếp, một cách xã giao thông thường khi 2 người gặp nhau. Tôi để ý thấy phía sau tấm thiếp của Vũ có 1 chữ "tín" viết bằng chữ nho rất to.

Tôi thấy khá nhiều doanh nhân hay dùng chữ "nhẫn" sao anh lại dùng chữ "Tín"?

Đó là một câu chuyện dài. Gần 20 năm trước, chúng tôi khởi nghiệp kinh doanh tại Liên Xô cũ. Lúc đầu chúng tôi sản xuất, rồi mở rộng sang các lĩnh vực khác nữa. Qua rất nhiều thăng trầm, thất bại cũng như thành công, tôi bỗng nghiệm ra một điều: Triết lý của đạo Phật thật là cao siêu và chữ "Tín" trong đạo Phật đã như một phần của cuộc đời tôi.

Anh hiểu chữ "Tín" ở đây như thế nào?

Chữ "Tín" hiểu đơn giản là niềm tin. Trong khi làm việc, nếu anh không có chữ tín anh không thể thành công được. Đã hứa thì phải giữ lời hứa, có thế mới giữ được sự tín nhiệm của người khác với mình. Và suốt từ năm 2000 đến bây giờ, khi tôi hiểu hơn nữa về Phật Pháp, tôi luôn đặt chữ "Tín" lên hàng đầu.

Hãy biết tiết kiệm lời hứa

Và anh rất tiết kiệm lời hứa?

Đúng như vậy. Vì đã hứa thì phải làm bằng được.

Có bao giờ anh cáu giận?

(Khi tôi hỏi câu này, Vũ lấy ra một cái vòng tràng hạt bằng gỗ nâu bóng. Một cái vòng đeo tay, cỡ khoảng gần 20 hạt to bằng hạt nhãn).

Hồi trước thì nhiều, nhưng bây giờ tôi đã vứt bỏ được sự cáu giận đến 80%. Mỗi ngày, tôi đều cố gắng ngồi tịnh tâm một lúc, thả hồn thanh thản. Tay tôi lần những tràng hạt này.

Anh thấy tác dụng chứ?

Vô cùng. Anh cũng nên thử. Phép tĩnh tâm trong đạo Phật đúng là cao siêu.

Nếu một nhân viên làm sai, anh sẽ ứng xử thế nào?

Trước kia thì tôi đã la mắng, thậm chí cho thôi việc. Nhưng bây giờ tôi lại làm khác. Nhẹ nhàng hơn rất nhiều (cười).

Theo triết lý nhà Phật, anh thấy kinh doanh có thuận lợi không?

Tôi nghĩ là rất tốt. Một điều tối thiểu trong Lục Hòa (6 điểm hòa hợp) mà Đức Phật đã dạy là "lợi hòa đồng quân", có nghĩa là phải biết cân bằng các lợi ích, khi có lợi thì cùng chia.

Tôi thực sự say mê

Tôi đã có lần đi qua đảo Phú Quý, Nha Trang nơi anh đang xây dựng khu quần thể biệt thự An Viên nằm sát biển rất đẹp. Vậy tại sao anh lại "nhẩy" vào cơ sở hạ tầng cho truyền hình là một lĩnh vực có vẻ tay ngang với anh?

Người kinh doanh sẽ chỉ thành công nếu họ làm cái gì mà họ thấy say mê. Tôi thực sự thấy say mê lĩnh vực này, do vậy trong mấy năm qua tôi tìm hiểu rất kỹ về truyền hình, cả về kỹ thuật số mặt đất và vệ tinh. Tôi cũng lập ra các đơn vị độc lập với nhau trong AVG để khảo sát các dữ liệu. Nói chung là phải rất chắc chắn mới dám đầu tư.

Anh không phải là người ưa mạo hiểm?

Không. Tôi rất thận trọng.

Như vậy nói nôm na, nếu đầu tư vào lĩnh vực này thì anh giống như là "cửu vạn" cho các Đài truyền hình và Kênh truyền hình?

Đúng như vậy. Tôi là người chuyên chở, cung cấp dịch vụ. Các đơn vị có nhu cầu thuê tôi thì sẽ trả tiền cho tôi. Rồi tôi bán hộp giải mã kỹ thuật số cho khách hàng. Tôi hy vọng sau 3 - 4 năm, AVG sẽ có được khoảng 3 triệu thuê bao kỹ thuật số.

Chấp nhận lỗ cho cuộc chơi

Anh đã tính đến khoản lỗ khi đầu tư cho AVG trong lĩnh vực truyền hình này?

Tôi đã dự tính phải khoảng 5 năm đầu là đầu tư và chỉ có lỗ. Số tiền cũng rất lớn, khoảng 2.500 - 3.000 tỷ đồng. Đầu tư vào lĩnh vực này cần rất nhiều tiền. Ví dụ, chỉ cần đầu tư vào một trạm thu phát sóng cũng cỡ khoảng 1 triệu USD cho một điểm (với 3 máy phát dùng cho 3 tần số). Ngay giai đoạn đầu đã phải đầu tư khoảng 25 trạm chính và 10 trạm kích hoạt phụ. Phải làm sao phủ sóng cho khoảng 85 - 90% dân số cả nước xem được thì mới thành công.




Anh có tin sản phẩm mà mình cung cấp sẽ được khách hàng đón nhận?

Tôi tin chứ. Chất lượng phải rất cao thì người ta mới mua sản phẩm của mình.

Nhưng chất lượng cao đồng nghĩa với công nghệ cao. Anh khai thác công nghệ cao này thế nào?

Tôi thuê rất nhiều tư vấn nước ngoài. Họ vừa cung cấp công nghệ và tham gia việc lắp đặt cho tôi, vừa dạy tôi. 

Nhưng người xem hiện nay vẫn chưa quen lắm với hình thức phải trả tiền khi xem truyền hình? 

Đó là các kênh truyền hình quảng bá. Xu hướng truyền hình trả tiền để có thể xem được nhiều kênh, chất lượng cao hơn là xu hướng tất yếu. Thế giới đều vậy và Việt Nam cũng sẽ không ngoại lệ. 

Có dư luận cho rằng khi AVG xuất hiện, thì anh đang mở ra một sân chơi và cạnh tranh ngay với các đài truyền hình khác? 

Tôi không thấy như vậy. Các đài lại rất ủng hộ vì họ có nhiều sự lựa chọn hơn, ít nhất là trong việc truyền dẫn. Nếu chất lượng tốt hơn, giá cả hợp lý hơn thì có lợi cho họ hơn chứ và cuối cùng là khán giả xem truyền hình là những người có lợi nhất. 

Anh đã bắt đầu bán sản phẩm chưa?

Hiện nay tôi mới đang thực hiện ở giai đoạn phát sóng thử nghiệm. Phải thật tốt mới có thể bán được.

Nhưng anh có đầu tư vào các kênh truyền hình không? 

Tôi chỉ hợp tác với Đài Truyền hình Bình Dương để sản xuất 2 kênh chương trình về văn hoá và thể thao. 

Đầu tư lớn vậy anh cũng phải tính đến việc hút các nhân sự giỏi biết làm truyền hình từ các nơi khác về chứ? 

Tất nhiên. Nhưng tôi không có chủ trương "móc" người của các Đài truyền hình về. Họ về hay không là hoàn toàn tự nguyện. 

"Lợi người, lợi mình" 

Anh có tin là mình sẽ thành công khi đầu tư vào lĩnh vực này? 

Đương nhiên cái gì cũng có tỷ lệ rủi ro. Nhưng tôi cho rằng tôi sẽ thành công. Còn nếu thất bại có khi cũng lại là thành công nếu cho mình những bài học tốt trong cuộc sống, trong kinh doanh. Tôi cố gắng vượt qua chính mình và vẫn luôn hiểu rằng chẳng có cái gì mình được tất cả. Phải làm lợi cho người thì rồi mới có lợi cho mình. 


"Đương nhiên cái gì cũng có tỷ lệ rủi ro" 

Và trong công ty của anh, có những thứ thuộc về văn hoá công ty?

Đấy là chữ "Tín" mà tôi nói với anh. Khi anh đã tin vào Phật Pháp thì chẳng có gì anh phải sợ nữa cả. Cái đấy có lẽ là cái được nhất trong cuộc đời, hơn cả địa vị, tiền bạc...

Vậy xin hỏi anh thêm một câu nữa: Anh có cảm thấy hài lòng với những gì hiện nay của anh? 

Tôi thấy rất hài lòng. 

Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này. 

(Chúng tôi chia tay lúc gần 6 giờ chiều. Và theo Vũ thì lịch làm việc của anh sẽ kín đặc đến khoảng 9 giờ tối, tuy nhiên anh vẫn cố gắng để có vài phút tĩnh tâm, hít thở và lần tràng hạt giữa những khoảng trống thời gian của công việc).

Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG) được thành lập năm 2008 với số vốn điều lệ ban đầu là 1.800 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực thiết lập mạng hạ tầng và cung cấp dịch vụ truyền dẫn phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất, kỹ thuật số vệ tinh và sản xuất khai thác bản quyền để cung cấp dịch vụ truyền hình kỹ thuật số mặt đất và kỹ thuật số vệ tinh.
AVG không phải là một đài truyền hình tư nhân như nhiều người vẫn lầm tưởng.


Theo Minh Quang
Bee.net.vn

Doanh nhân Lê Phước Vũ: Tôi đã từng khao khát có được một vị thầy nương tựa tâm linh

Doanh nhân Lê Phước Vũ: Tôi đã từng khao khát có được một vị thầy nương tựa tâm linh


Được biết, ông là đệ tử của một cao Tăng lỗi lạc của Việt Nam, HT.Thích Trí Tịnh, xin ông cho biết đôi điều về vị thầy hướng đạo lỗi lạc ấy, và nhân duyên khi gặp ngài?

Tôi bắt đầu tìm hiểu đạo Phật sau những biến cố trong cuộc đời. Tôi khởi tâm đi tìm bản chất thật của đời sống hiện tại, cũng như bản chất của những cảnh giới khác tương tác vào đời sống con người. Sau một thời gian khá dài tôi tìm hiểu Phật pháp. Thông qua bài kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi đã hiểu được bản chất của Pháp giới, bản chất của con người, bản chất của tâm,... Từ đó tôi có một cái nhìn tỏa ngộ từ các trạng thái tâm thức và sự chuyển hóa tâm thức.

Thấu rõ bản hoài bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi bắt đầu khát khao có được một vị thầy nương tựa, một vị Tăng đại diện cho hàng Tăng bảo. Tôi đã đi rất nhiều nơi, đảnh lễ nhiều chùa nhưng duyên lành chưa đến. Tình cờ tôi đọc được cuốn sách Đường về cực lạc do HT.Thích Trí Tịnh viết. Dò la tìm kiếm, tôi đến chùa Vạn Đức ở quận Thủ Đức vào một buổi chiều rất đẹp. Như một mối nhân duyên tiền định, tôi phủ phục trước người và xin được đảnh lễ quy y. Tôi chính thức bước vào trong ngôi nhà Phật pháp trong ngày lễ vía đức Bồ tát Quán Thế Âm. Tôi hạnh phúc vì được làm đệ tử của HT.Thích Trí Tịnh, bậc cao Tăng của Phật giáo Việt Nam đương đại.

- Có sự khác biệt nào giữa Phật tử Lê Phước Vũ của hôm nay và Lê Phước Vũ của những ngày chưa theo đạo Phật?

Biến chuyển lớn nhất trong đời tôi từ khi theo đạo Phật, chính là sự thay đổi hoàn toàn về lối sống tâm linh, về nhận thức, suy nghĩ và cách hành động như thế nào cho phù hợp. Tơi của ngày hôm nay hoàn toàn không phải là Lê Phước Vũ của nhiều năm về trước. Tôi của bây giờ đ biết hướng tm mình đến những điều tốt đẹp hơn, thánh thiện hơn và cũng cĩ cái nhìn đúng đắn hơn về cuộc sống.

- Sau nhiều năm học hỏi và hành trì giáo lý đạo Phật, ông tâm đắc giá trị đạo đức tâm linh nào trong tôn giáo này?

Tôi không phải là một người dễ tin và dễ tôn thờ ai một cách mù quáng. Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu kinh sách, học hỏi giáo lý, hành trì lời Phật dạy. Tôi đã nghiêng mình, cúi đầu đảnh lễ đấng chí tôn Gotama, bậc Thầy vĩ đại của nhân loại. Giáo lý của Ngài tôi học được không ít, nhưng tôi tâm đắc nhất và nhận thấy mình có duyên nhất với hai luồng tư tưởng là: Vô ngã và Vị tha.

- Là một thương gia nổi tiếng, xin ông cho biết sự khó khăn và thuận lợi khi doanh nhân là Phật tử và Phật tử là doanh nhân?

Phật tử là một doanh nhân ngược lại thì điều đầu tiên phải tin sự vô nhân quả. Phải hiểu rằng tất cả những của cải chúng ta tạo ra đều từ phước báu đã gieo trồng nhiều đời trước. Phước báu này do nhân quả đời trước chúng ta biết bố thí, cúng dường, đời ny chúng ta thành công, thuận lợi trong mọi việc làm ăn, ít gặp chướng ngại. Quan trọng nhất khi doanh nhân là Phật tử và ngược lại là làm sao giữ được phương pháp hành trì Bát chánh đạo. Tin chắc nhân quả, nghiệp báo, luân hồi và thấy mình vì mọi người nhiều hơn để mọi người vì mình.

- Suốt một chặng đường dài đã qua theo chân Phật phụng sự đạo pháp, giúp ích cho cuộc đời, cảm nhận của ông về giá trị cuộc sống này như thế nào?

Thế giới chúng ta đang hiện hữu là một đời sống hữu hạn, không phải là vĩnh cửu. Do vậy, bất cứ ai cũng gặp không ít những khó khăn, vấp ngã, nghịch duyên trong cuộc đời hơn là gặt hái nhiều hạnh phúc và thuận duyên. Những tưởng rằng khi đời sống vật chất của con người được đáp ứng đầy đủ, khoa học kỹ thuật ngày một tối tân thì tinh thần con người sẽ được thăng hoa theo cấp độ tiến hóa. Thế nhưng, đáng đau lòng hơn cả là tệ nạn suy đồi đạo đức đang trên đà báo động. Con người càng cố gắng truy tìm hạnh phúc, lại càng nhận những mất mát đau thương.

Tôi nhận ra rằng, giữ quân bình, hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần là điều rất quan trọng. Bởi đời sống vật chất rất hữu hạn, thường biến đổi không ngừng. Trong khi đó, đời sống tinh thần, tâm linh là vĩnh cửu, giúp ta tìm được hạnh phúc chân thật, bền lâu giữa cuộc đời.

- Danh hiệu Tôn Hoa Sen là một tên gọi được ông đặt ngẩu nhiên hay có sự liên đới giữa tôn giáo ông đang tôn thờ?

Tôn là một sản phẩm và là một mặt hàng ngẩu nhiên khi tôi mới bước vo nghề, vì lúc đó vốn tôi rất ít. Do vậy, tôi không có sự lựa chọn nào khác. Sau đó tôi mở một cửa hàng vật liệu xây dựng nhỏ và được làm đại lý cho công ty tôn thép Pomina. Đó là nhân duyên lớn để tôi chính thức bước vào nghề Tôn tới ngày hôm nay. Mặc dù là công ty lớn nhất Việt Nam cũng như Đông Nam Á, nhưng rõ ràng duyên lành đó đến với tôi, vì giám đốc công ty lúc đó cho tôi trả chậm 50.000.000VND. Bên cạnh đó, tôi ý thức được, chữ Hoa Sen xuất phát từ đạo Phật, và tôi muốn lấy tên loài hoa thanh khiết này đặt cho thương hiệu của mình, và rỏ ràng đó là sự kết hợp đầy thiện duyên (cười).

- Là một doanh nhân nổi tiếng nhưng lại ăn chay trường, ông có gặp khó khăn, trở ngại gì khi đi gặp đối tác và các vị chức sắc?

Tôi nghĩ việc ăn chay là một cách để kềm chế tâm mình, để mình bớt dục vọng, bớt dần những ý niệm không tốt trong tâm, phần khác cũng là thanh lọc cơ thể, là cách để thể hiện lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh. Đó là vấn đề mà tôi nghĩ ai cũng sẽ làm được, chỉ khó khăn ở giai đoạn đầu, nhưng rồi sẽ quen.

Tôi cũng gặp không ít những khó khăn khi gặp đối tác vào thời gian đầu ăn chay. Nhưng rồi mọi thứ đã đi vào quỹ đạo, các đối tác của tôi đã hiểu tôi. Những lúc tôi có dịp ra nước ngoài hoặc họ về Việt Nam, họ mời tôi đi dùng cơm hay tôi mời họ dùng cơm thì họ sẽ hiểu rằng tôi dùng chay và tôi sẽ chọn quán cơm chay để mời họ. Vô tình tôi có thêm những người bạn cùng ăn chay với mình.

- Nhân duyên nào thúc đẩy để một doanh nhân thành đạt như ông phát nguyện xây dựng, trùng tu các ngôi Tam bảo và hộ trì cho đời sống tu học của Tăng già ở một số tự viện?

Tôi có duyên lành với Tam bảo từ nhiều kiếp trước, nên trong kiếp này tôi may mắn được gặp gỡ nhiều chùa, tự viện, tịnh thất,... Và đặc biệt, tôi được đảnh lễ rất nhiều chư vị Tăng Ni. Với tấm lòng sùng mộ Tam bảo, tôi sẽ làm tất cả để Phật pháp vững bền giữa thế gian.

Tôi đã kinh qua những biến động giữa cuộc đời, cùng với các cung bậc thành, trụ, hoại và không, tất cả chỉ là trò ảo hóa có đó rồi không. Trên thế giới đã có biết bao anh tài tỷ phú tiền hô hậu ủng, nhưng chết rồi vẫn hai bàn tay trắng ra đi. Những tình yêu bền chắc, những thâm tình sâu nặng giữa cuộc đời, rồi cũng đến lúc đường ai nấy bước,... Tôi hiểu được điều đó nên không nắm giữ nhiều cho mình. Nếu làm được gì lợi ích cho cuộc đời, cho Phật pháp, cho Tăng Ni, tôi luôn hộ trì với trái tim thành kính.

- Đâu là chiếc chìa khóa thành công để ông trụ vững giữa cuộc đời?

Có hai vấn đề: Thứ nhất là sự nỗ lực về tự thân, làm hết sức mình, làm việc bằng tinh thần, trách nhiệm cao. Đặc biệt phải sống chân chính (Chánh mạng) theo tinh thần Phật dạy.

Thứ hai: Tôi tin tuyệt đối vào sự gia hộ của Tam bảo, chư vị đại Bồ tát, Thiên long Bát bộ, Hộ pháp chư Thiên,... Tôi tin rằng các Ngài luôn thường trụ giữa cuộc đời, và Tôn Hoa Sen có được ngày hôm nay cũng chính nhờ các Ngài gia bị.

- Nếu được nói một vài lời đối với các doanh nghiệp, ông sẽ nói với họ điều gì?

Thứ nhất: Phải tin vào nhân quả, nếu đời trước chúng ta đã tạo nhiều nhân lành thì đời này sẽ gặt được quả tốt. Chúng ta sẽ trở thành những người giàu có và công việc của chúng ta sẽ được thuận lợi.

Thứ hai: Phải sống chân chính và cuối cùng là phải bớt sống vì mình mà nên vì những người xung quanh, đặc biệt là việc hộ trì Tam bảo, hộ trì Phật pháp.

Xin cám ơn ông đã chia sẻ, cầu chúc ông luôn an lành, có đầy đủ sức khỏe, may mắn và thành công, để tiếp tục trên con đường phụng sự đạo pháp, giúp ích cho cuộc đời.

Technology