December 30, 2012

8 thói quen của những người thành đạt

Những người thành đạt nhất có những bí quyết riêng thành công của mỗi người. Tuy nhiên, họ lại chia sẽ những thói quen chung sau:


Chuẩn bị những kế hoạch dự phòng

Những kế hoạch dự phòng giúp bạn an tâm và tự tin hơn. Tuy nhiên, đừng vội chủ quan khi đã vạch ra kế hoạch từ trước. Song song với kế hoạch là những nỗ lực không ngừng, làm việc chăm chỉ để đạt được mục tiêu của mình. Nếu những điều bất ngờ xảy đến, hãy bình tĩnh, bạn cần nhanh chóng tìm ra giải pháp và thích ứng với hoàn cảnh thay vì thẫn thờ bỏ cuộc vì mọi việc không như mình sự tính.

Nỗ lực làm việc

Bạn sẽ làm tốt nếu bạn nỗ lực. Bạn sẽ làm rất tốt nếu ban nỗ lực thêm một chút nữa. Tuy nhiên, bạn sẽ không làm được bất kì điều gì nếu bạn không bỏ ra chút công sức nào. Không có thành nào đến dễ dàng. Mọi người đều biết đến nguyên tắc làm việc chăm chỉ nhưng không ai chịu làm theo trừ những người thực sự thành công. Vì vậy, hãy bắt đầu làm việc ngay bây giờ. Thờ gian không chờ đợi ai.

Tập trung 100%

Những doanh nhân thành đạt làm nhiều việc hơn rất nhiều người bình thường. Họ có một danh sách dài họ muốn hoàn thành. Vì vậy, họ phải dành rất nhiều thời gian cho nó. Hơn cả, họ muốn dành 100% năng lượng, thậm chí bỏ qua thú vui của bản thân cho công việc.

Nếu bạn không làm việc thật chăm chỉ, mọi người có thể hiểu mục tiêu bạn đề ra thực sự không có nhiều ý nghĩa đối với bạn hoặc nó không khó để đạt được. Nói một khác, bạn sẽ không thể thành công vang dội.

Không chạy theo xu hướng đám đông

Sự khôn ngoan bình thường chỉ đem lại những kết quả bình thường. Chạy theo đám đông - dù là rất thịnh hành hay là một cơ hội tốt - chỉ là công thức của sự tầm thường.

Những người thành công vang dội có thói quen làm những việc người khác sẽ không làm. Họ đến những nơi người khác sẽ không đến vì ở đó có ít cạnh tranh và nhiều cơ hội để thành công.

Bắt đầu từ lúc kết thúc

Thành công trung bình thường vì bạn chỉ đặt các mục tiêu trung bình. Hãy quyết định điều bạn thực sự muốn: là người tốt nhất, nhanh nhất, rẻ nhất, lớn nhất…Và đặt mục tiêu để biến những điều đó thành sự thực. Quyết định cả việc bạn muốn kết thúc ở đâu. Đó chính là mục tiêu của bạn.

Mục tiêu lớn, thành công lớn. Bạn sẽ có những kết luận tốt hơn và cảm thấy dễ chịu hơn khi phải làm việc chăm chỉ hơn.

Không bằng lòng với những điều đã đạt được

Đạt được mục tiêu - dù lớn đến đâu - không phải là sự kết thúc đối với những người thành công. Đạt được mục tiêu lơn này là tiền đề để đạt các mục tiêu lớn hơn nữa.

Có thể bạn muốn tạo ra một công ty 100 triệu đô la: một khi bạn đã đạt được điều đó, bạn có thể tận dụng các mối quan hệ và ảnh hưởng để thành lập một quỹ từ thiện. Khi sự nghiệp kinh doanh và quỹ từ thiện thành công có thể tạo tiền để cho bạn làm những việc khác như nói, viết và nghĩ về khả năng lãnh đạo, truyền cảm hứng cho người khác…Tiến trình dẫn đến thành công trong một lĩnh vực sẽ cho bạn những kỹ năng và quan hệ để có thể thành công trong nhiều lĩnh vực khác.

Có kỹ năng bán hàng xuất sắc

Khi được hỏi về kỹ năng nào đóng góp lớn nhất cho thành công, chủ doanh doanh nghiệp và các CEO đều cho biết đó là kỹ năng bán hàng.

Hãy lưu ý rằng bán hàng không phải là việc thao túng, gây sức ép hoặc phỉnh phờ. Bán là giải thích sự logic và lợi ích của một quyết định hoặc vị trí. Bán là thuyết phục người khác làm việc với bạn. Bán là vượt qua các rào cản và sự phản đối. Bán hàng chính là nền tảng của một doanh nghiệp và thành công cá nhân: biết cách thương thuyết, biết cách từ chối, luôn thể hiện sự tự tin và tự trọng khi bị từ chối, làm việc hiệu quả vời nhiều kiểu người, xây dựng các mối quan hệ lâu bền…

Không tự kiêu

Những người thành công và được mọi người tôn trọng là người không tự huyễn với bản thân. Cái tôi cá nhân, lòng tự trọng của họ vừa đủ để họ vẫn có thể thừa nhận khi mắc sai lầm, để nói lời xin lỗi, để có những ước mơ lớn hơn, để chia sẻ thành công với người xung quanh, để yêu cầu sự trợ giúp cần, để thất bại và cố gắng vượt qua.

Theo doanhnhansaigon.vn

Từ gánh tàu hũ

“Ai tàu hũ không”, tiếng rao ấy đã đi vào tiềm thức thời ấu thơ của bao đứa trẻ vùng quê. Đó cũng trở thành niềm trăn trở của chàng trai 24 tuổi Đinh Tuấn Ân về một vị trí xứng đáng cho món ăn đầy chất dinh dưỡng này.

Những bước đi đầu tiên

Chuẩn bị tốt nghiệp Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, Tuấn Ân từ bỏ cơ hội có một công việc ổn định, rẽ hướng sang kinh doanh. Với ước mơ và hoài bão đưa nền ẩm thực của nước nhà ra thế giới, Ân bắt đầu khởi nghiệp với gánh tàu hũ dạo. Ân tự hỏi vì sao Harland Sanders - ông tổ của KFC - có thể đưa món gà rán trở nên nổi tiếng thì người Việt Nam sao không thể mang những món ăn Việt Nam đi khắp thế giới. Và Ân suy nghĩ đến món tàu hũ của quê hương mình. Tuấn Ân nói: “Cha đẻ của ngành marketing hiện đại - Philip Kotler có câu nói với dụng ý: hình ảnh Trung Quốc luôn gắn liền với hàng hóa và nhân công giá rẻ, Ấn Độ thì với ngành công nghệ phần mềm rất phát triển, còn Việt Nam thì có thể nổi lên với một nền văn hóa ẩm thực hấp dẫn và phong phú. Mình thấy Việt Nam được thiên nhiên ưu ái để làm ra nhiều món ăn độc đáo và bổ dưỡng, trong đó có món tàu hũ. Những món ăn đó đều có thể nổi tiếng nếu như có một ai đó phát hiện, khai phá và đưa nó ra thế giới. Nhưng trước tiên, mình phải tạo dựng được thương hiệu ngay trên chính quê hương của mình”.


Tàu hũ gấc thập cẩm và tàu hũ dứa thập cẩm là những thức uống đặc trưng của quán tàu hũ Hat - Ảnh: Hải Yến


Đinh Tuấn Ân - Ảnh: Do nhân vật cung cấp

Nghĩ là làm, Ân cùng hai người bạn hùn vốn mua nguyên liệu và thuyết phục người thím từ Quảng Ngãi vào TP.HCM nấu tàu hũ. Trong ba tháng, đều đặn mỗi ngày Ân chở gánh tàu hũ từ Thủ Đức lên bán ở vỉa hè xung quanh khu chợ Bến Thành. Số vốn Ân tiết kiệm, tiền định mua máy tính, vay mượn bạn bè cũng không đủ sắm dụng cụ buôn bán. Chưa có kinh nghiệm bán hàng, những lời mời chào cũng không làm nhiều khách chú ý đến gánh tàu hũ của Ân. “Những ngày đầu kinh doanh thực sự khó khăn với mình và hai người bạn. Nhưng khi đã vượt qua được, mình cảm nhận chính thời gian đó đã tôi luyện cho bọn mình ý chí, sự đoàn kết và trở nên mạnh mẽ hơn”, Tuấn Ân chia sẻ.

Đứng lên từ thất bại

Khi đã có một số vốn, Ân cùng những người bạn mở một quán bán tàu hũ trước cổng Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM. Không phải ai kinh doanh cũng có thể thành công ngay, và lần đó Ân đã thất bại với số tiền lỗ lên đến 100 triệu đồng. Bạn bè ngăn cản, không được sự trợ giúp từ gia đình, tưởng chừng Ân đã bỏ cuộc. Song, từ thất bại đó, Ân và hai người bạn nhìn lại những sai lầm và rút ra bài học cho lần kinh doanh sau. Tuấn Ân tâm sự: “Sự thất bại đó không quan trọng bằng cách mình vượt qua nó và khẳng định vị trí của bản thân như thế nào”.

Mạo hiểm nhưng chắc chắn với niềm tin mình làm được, thương hiệu tàu hũ Hat ra đời với quán tàu hũ bán trong căn tin ký túc xá ĐH Nông Lâm TP.HCM. Vừa phải trả món nợ cũ vừa đầu tư cho quán mới, Ân phải đi vay tiền bạn bè mua từng chiếc tủ, nồi nấu... Sau lần thất bại đầu tiên, Ân ngẫm ra rằng món tàu hũ của mình không ngon nên không níu kéo được khách hàng. Và từ một người không biết chút gì về nấu tàu hũ, Ân và những người bạn vô tình tìm ra một công thức nấu tàu hũ khác biệt so với các quán khác. Kinh doanh theo kiểu đầu tư cuốn chiếu, Ân từng bước sắm đầy đủ vật dụng và mở rộng quy mô cửa hàng.

Bí quyết để thành công

Hiện tại, Tuấn Ân cùng bốn người bạn: Nguyễn Lê Hận, Mai Thanh Tùng (sinh viên Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM), Nguyễn Thanh Huy (sinh viên Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM) và Nguyễn Văn Thành (sinh viên Trường ĐH Đà Lạt) thành lập Công ty TNHH tàu hũ Hat và có bốn cửa hàng bán tàu hũ trong khu vực Làng đại học Thủ Đức.

Không chỉ dừng lại ở món tàu hũ nước đường truyền thống, Ân cùng các bạn trong nhóm tiếp tục tìm tòi thêm nhiều món tàu hũ mới lạ. Bằng sự gợi ý của một vị khách lớn tuổi, Ân kết hợp tàu hũ cùng những nguyên liệu bổ dưỡng như lá dứa (lá nếp), các loại đậu để cho ra 30 món tàu hũ với bốn dòng sản phẩm: Tàu hũ nóng, tàu hũ đá, tàu hũ đá lá dứa, tàu hũ đá gấc. Ân muốn đem đến cho khách hàng sự trải nghiệm khác biệt trong từng sản phẩm cũng như không gian, thiết kế của mỗi cửa hàng, phù hợp với thị hiếu, văn hóa của từng đối tượng. Sự khác biệt đã thu hút được khách đến với cửa hàng của Ân và chính người khách đó sẽ quảng cáo món tàu hũ đến với người thân, bạn bè.

Sự sáng tạo trong việc xây dựng thực đơn thành một cuốn tạp chí cũng góp phần tạo nên sự khác biệt của cửa hàng. Ở đó, người ăn không chỉ lựa chọn món mình thích mà còn tìm hiểu được ích lợi của từng món ăn đối với sức khỏe.

Không chỉ chú trọng về chất lượng sản phẩm, điều giúp Ân và nhóm bạn đạt được thành công là sự coi trọng yếu tố con người. Tuấn Ân tâm sự: “Mình muốn biến công ty thành một đại gia đình tàu hũ Hat. Ở đó, mọi người gắn kết và tôn trọng lẫn nhau. Mình là người quản lý phải có cái tâm, nhiệt huyết truyền lửa cho nhân viên, mình có cách ứng xử thân thiện với nhân viên. Mỗi thành viên đều có một thế mạnh nhất định trong từng lĩnh vực và mình tạo cơ hội cho họ phát triển năng lực bản thân. Chính những điều trên giúp mình có một đội ngũ nhân viên nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc”.

Tuấn Ân chia sẻ: “Mình có ước mơ thì mình phải hiện thực hóa nó bằng hành động. Nhưng đường đi không phải lúc nào cũng bằng phẳng, nó sẽ có chông gai, có đứt gãy. Song quan trọng hơn hết là cách mình tiếp nhận vấn đề ra sao và ý chí, bản lĩnh của người kinh doanh. Đối với mình, trong đời luôn có hai sự lựa chọn, hoặc mình làm tốt hơn người ta hoặc tạo ra sự khác biệt, mình chọn làm cả hai điều đó”.

Hải Yến
Sources: thanhnien

8 loại quà không nên tặng sếp và đồng nghiệp

(Dân trí) - Năm mới sắp đến và hẳn không ít người đang tính đến chuyện tặng quà cho sếp hay đồng nghiệp để củng cố mối quan hệ nơi công sở. Nhưng loại quà nào nên tặng còn loại nào bạn nên tránh xa? Sau đây là một số gợi ý.

Mặc dù không có quy định nào về việc phải tặng quà nơi công sở nhưng tại nhiều công ty, mọi người vẫn trao đổi quà với nhau mỗi dịp lễ tết. Nhưng bạn cũng cần nhớ rằng tặng món quà không phù hợp còn tệ hơn cả việc không tặng gì.




Tặng quà nơi công sở cần là một việc cần được suy tính kỹ lưỡng

Đôi khi những món quà bạn cho là thú vị nhưng thay vì thấy vui mừng, người nhận có thể cảm thấy bị xúc phạm hay ít nhất là khó chịu. Vậy làm thế nào để tránh rơi vào tình cảnh này? Sau đây là những gợi ý hữu ích.

Những món quà “người lớn”: Các vật dụng mà có liên quan đến tình dục là không phù hợp (thậm chí là phạm pháp) tại công sở. Chúng bao gồm không chỉ những thứ như tranh ảnh khiêu gợi hay đồ chơi người lớn mà còn có thể là các tác phẩm nghệ thuật, sách hoặc bất kỳ vật phẩm nào có những hình ảnh khỏa thân hoặc gợi liên tưởng đến chuyện phòng the.

Những món quà mang tính phân biệt đối xử, kỳ thị: Đừng bào giờ tặng những món quà mà có thể bị xem là dễ gây xúc phạm tới phụ nữ, người dân tộc thiểu số hoặc bất kỳ dân tộc, văn hóa, nhóm người hoặc người khuyết tật ngay cả khi bạn trao chúng trong bối cảnh “rất vui vẻ”. Những thứ này bao gồm các loại thiệp, quà, tác phẩm nghệ thuật, hình biếm họa, các ấn phẩm và bất kỳ vật dụng nào có thể bị diễn giải như là một sự kỳ thị hoặc phân biệt đối xử.

Những món quà có tính chính trị hoặc tôn giáo: Trừ trường hợp ai đó đề nghị bạn tặng một vật phẩm có tính chất chính trị hoặc tôn giáo cụ thể, như sách hoặc quà, đừng bao giờ thử tặng các món quà như vậy. Nếu bạn thực sự làm theo mong muốn của người đó, nên nhớ rằng những người khác trong văn phòng cũng có thể cảm thấy khó chịu.

Những sản phẩm chăm sóc cá nhân: Những thứ dùng để chải chuốt và trang điểm nhìn chung thường có tính chất riêng tư và không phù hợp làm quà tặng nơi công sở, nhất là cho những người khác giới. Do đó đừng tặng các món quà như sản phẩm chăm sóc da và thân thể, nước hoa, bàn chải đánh răng, lược hay đồ cạo râu...Bạn có thể cho rằng một lọ nước thơm xoa tay là lựa chọn hay nhưng khi tặng nó cho một người bị dị ứng hoặc chứng hen suyễn thì rõ ràng nó chẳng có ích gì.

Quần áo nội y: Tất cả các loại đồ lót, trong mọi trường hợp cũng như bất kỳ loại đồ may mặc nào loại trừ mũ, nón, khăn quàng cổ hoặc găng tay, đều không phải những món quà phù hợp cho đồng nghiệp hoặc sếp. Một chiếc áo phông (áo thun) có logo công ty có thể chấp nhận được nhưng với nhiều người nó lại hơi “rẻ tiền”.

Trang sức lãng mạn: Nếu bạn muốn tặng đồ trang sức, hãy chọn những thứ nhỏ, thông thường và chỉ tặng chúng cho những đồng nghiệp cùng giới. Điều cần nhớ khi tặng đồ trang sức đó là một số vật có thể bị hiểu lầm là cử chỉ lãng mạn, nhất là khi món đồ đó đắt tiền. Đồ trang sức phù hợp nhất để làm quà đó là một chiếc đồng hồ có mức giá vừa phải hoặc những vòng đeo tay thời trang nhưng giản dị. Đừng bao giờ tặng những thứ như ngọc trai, kim cương hay đá quý.

Hoa: Nếu bạn muốn tặng hoa, đừng tặng hoa hồng, bất kể màu gì. Hãy chọn những loại cây khác như cây trạng nguyên, cây tre “may mắn”…Những cây này sống lâu hơn và không bị xem là cử chỉ lãng mạn.

Tiền mặt: Đừng bao giờ nghĩ đến việc tặng sếp hay đồng nghiệp tiền mặt (nhưng phiếu quà tặng thì có thể chấp nhận được). Tiền mặt chỉ phù hợp khi một công ty hoặc ông chủ tặng cho nhân viên như một khoản thưởng chứ không phải quà cá nhân.


Thanh Tùng
Tổng hợp

Cho Và Nhận



Thiền Căn Bản



December 29, 2012

Thiền Sư Việt Nam



Kinh Thiện Sinh_Triết Lý Cuộc Sống Thực Tế

Con Nhện Trước Miếu Quan Âm

Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút. Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện chăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính. Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh.

Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà.

Phật dừng lại, hỏi nhện: “Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng. Được không?”

Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý. Phật hỏi: “Thế gian cái gì quý giá nhất?”

Nhện suy ngẫm, rồi đáp: “Thế gian quý nhất là những gì ta không bao giờ có được và những gì đã mất đi vĩnh viễn!”. Phật chỉ gật đầu, rồi Ngài đi khỏi.
Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.

Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: “Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?”

Nhện nói: “Con vẫn tin rằng trong nhân gian quý nhất vẫn là “không có được” và “đã mất đi” ạ!”

Phật nói: “Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi.”


Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện. Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích. Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua. Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi. Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau.

Lúc đó Phật tới, ngài hỏi: “Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?”

Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật: “Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không bao giờ ta có được và cái đã mất đi vĩnh viễn.”

Phật nói: “Nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người!”

Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi. Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển.

Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa. Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng. Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng nghĩ rằng, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng.

Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu. Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo.

Châu Nhi nói với Cam Lộc: “Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, người gặp con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?”

Cam Lộc kinh ngạc, hỏi: “Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?”. Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó.

Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta? Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng công chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với thái tử Chi Thụ. Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế.

Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp.

Thái tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng: “Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng. Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi.” Nói đoạn rút gươm tự sát.

Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi: “Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng? Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi. Cam Lộc thuộc về công chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi.

Còn thái tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta. Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?”

Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật: “Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!”

Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm…
Câu chuyện đến đây là hết, bạn có hiểu câu cuối cùng mà nàng Châu Nhi nói không?

“Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!”

Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.

Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ.

Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

Tình yêu như sợi dây, hai người cùng kéo hai đầu, chỉ cần một người kéo căng hoặc bỏ lơi, tình yêu ấy sẽ căng thẳng hoặc chùng xuống.

Vậy khi bạn đi kiếm người ở đầu kia dây, hãy cân nhắc. Hoặc bạn có quá nhiều sợi dây tình cảm, hoặc bạn cứ liên tục tìm cái mới, hoặc khi dây đã đứt, bạn không còn can đảm hay lòng tin, tình yêu để đi tìm một tình yêu mới nữa.

Bất kể thế nào, khi sợi dây đó đứt, bạn chỉ mất đi một người không yêu bạn, nhưng người đó đã mất đi một người yêu họ.

Mất một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn rầu?

Bởi bạn còn cơ hội, một lần nữa, gặp người biết rằng bạn quý giá.

Có muốn nghe tôi kể câu chuyện ấy lần nữa không, ngày xưa, trước miếu Quan Âm…

Tu Là Gì?

Dưới đây là bài ghi lại buổi hội thoại chủ đề “Tu là gì?” của chương trình TV Khai Tâm trên đài SBTN, do Đại Đức Hằng Trường và các thành viên của Hội Từ Bi Phụng Sự CompaSS phụ trách. Đại Đức Hằng Trường trả lời những câu hỏi về chủ đề “Tu là gì?” do các thảo luận viên đưa ra. 

Hỏi:Tu là gì? Tại sao chúng ta phải tu. Nghe tới chữ tu là chúng ta đã sợ rồi, tu thì khó lắm. Có lẽ không ai có đủ tư cách để trả lời câu hỏi tu là gì cho chúng ta hơn là thầy. Thưa thầy tu là gì, tại sao người ta sợ tu nhưng lại nói “tu là cõi phúc tình là dây oan”? 

Đáp: Câu hỏi này rất hay nhưng cũng thiệt khó. Chữ tu, nghe nói tới thì lập tức mình liên tưởng tới nhà chùa, xuất gia, một nhóm người mặc áo vàng, cạo đầu, sống khắc khổ. Nên nói đến chữ tu thì mình liên tưởng tới chuyện xuất thế, đi ra ngoài cõi đời. Thường thường, mình hiểu lầm rằng tu là xuất gia, là xuất thế, yếm thế. Vậy mình cần định nghĩa lại chữ tu. Tu như đức Phật nói, là một sự thay đổi đến độ làm cho mình biến đổi từ một người phàm phu mà ra một vị Phật. Sự biến đổi từng bước để trở thành vị Phật đó, gọi là tu. Thầy muốn thêm vào: sự biến đổi phải như thế nào? Cứ nghĩ coi: trong đời mình cứ muốn ở nguyên một trạng thái hay muốn biến đổi?

Hỏi: Nếu cứ ở một trạng thái hoài thì chắc đời sống mình không biết có ý nghĩa gì không. Xin thầy cho biết làm sao để biến đổi đời sống mình đến một trạng thái tốt đẹp hơn.

Đáp: Sự thay đổi trạng thái đó mình gọi là tu. Nếu mình là một con người giận dữ thì mình bớt giận đi. Sự bớt giận đó chính là thay đổi, đưa mình tới chỗ tốt hơn, nên gọi là tu. Thành ra tu là thay đổi, sửa đổi, sửa lỗi lầm. Nhưng nếu chỉ nói thay đổi từ giận ra bớt giận thì sự thay đổi đó chỉ là chiều ngang, thay đổi tính tình chút xíu như vậy, không nói được sự thay đổi chiều dọc, tức là mình thay đổi để tới chỗ nào? Nếu thay đổi mà làm cho cuộc đời của mình hoàn toàn được cải thiện, con người mình hoàn toàn đổi mới cũng như là ở một địa vị thấp ra một địa vị cao hơn, thấy chân trời mới hơn, cái đó gọi là tiến hóa. Cho nên cái định nghĩa đầu tiên: tu là sửa đổi, thay đổi nhưng từ từ mình tới một định nghĩa mới, tu là một sự tiến hóa. Sự tiến hóa đó đưa mình tới một cái nhìn mới, tâm mình càng ngày càng mở rộng ra và mình thấy được con đường, thấy cuộc sống mình nó nối liền với nhau bởi những sự thay đổi để mình tiến lên. Nên bởi vậy nói tu có nghĩa là xuất gia thì quá nhỏ hẹp. Mình nên định nghĩa tu là tiến hóa. Mà định nghĩa này gần như quan trọng nhất trong đại thừa Phật giáo.

Hỏi: Những gì con nghe trước đây: tu là để được cái này cái kia, rồi cầu an, cầu siêu, cầu phước cầu tài. Những tư tưởng đó là sai lầm hết sao thầy?

Đáp: Có lẽ chúng không sai lầm nhưng thiếu sót thôi. Tôn giáo có nhiều tác dụng. Có tác dụng làm cho mình được an lạc, có tác dụng tạm thời làm mình mất đi những sợ hãi. Nhưng tác dụng quan trọng nhất, cốt tủy của tôn giáo là làm sao cho con người mình được giải thoát ra khỏi những đau khổ, sự giải thoát đó gọi là tiến hóa. Cho nên trong con đường tu có nhiều người không thể cảm nhận được tu là tiến hóa, họ cần giải quyết những vấn đề ngay trước mắt, ngay lập tức. Tôi đang sợ, mẹ tôi vừa mới mất, tôi đang buồn đây, làm sao cho hết buồn? Bởi vậy mình có lễ cầu siêu để làm cho người ta tâm được an ổn. Tác dụng tôn giáo đó là tác dụng thứ yếu, tác dụng chính phải là làm cho con người tiến hóa. Không nên nhấn mạnh vào tác dụng thứ yếu. Lý do tôn giáo bị người ta hiểu lầm là một thứ ma túy, thuốc phiện là vì người lãnh đạo những trường phái hay chiều hướng tôn giáo thay vì chú trọng vào sự tiến hóa thì lại chú trọng vào chuyện làm sao giải quyết những vấn đề cấp thời. Trong thời đại bây giờ, với tri thức, sự hiểu biết, cách suy nghĩ hiện đại, có lẽ mình nên thay đổi lại, nên hiểu tu có nghĩa là tiến hóa. Do đó, không phải chỉ có người Phật giáo mới tu mà tất cả ai có sự sửa đổi để tiến hóa thì đều gọi là tu cả.

Hỏi: Thầy vừa nói tới vấn đề là người nào cũng cần phải tu nhưng có nhiều người nói là tôi ăn hiền ở lành, sống một cuộc đời hạnh phúc, tôi thành công trong xã hội, thì cần gì tôi phải tu.

Đáp: Quan điểm đó rất là đúng. Bởi vì con người có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có một cái ưu tiên. Giai đoạn đầu tiên là mình phải làm sao sinh tồn. Khi mình cần phải sinh tồn thì mình sẽ không nghĩ gì đến chuyện tu hành, tiến hóa gì cả. Mình thấy rất nhiều người nghèo khổ, không có miếng ăn, không có gạo, có muối, không có nước nữa thì mình không cách chi biểu người ta tu được cả. Sinh tồn là chuyện quan trọng lúc đó, phải giải quyết chuyện sinh tồn chứ không phải chuyện tiến hóa. Nhưng khi sinh tồn giải quyết rồi thì mình muốn làm sao cho cái nhà đẹp chút xíu, có cái xe hơi chạy cho tốt, tức là không những sinh tồn mà được sung sướng chút xíu. Nên mỗi tầng lớp đều có một ưu tiên. Có rất nhiều người tới chùa không phải để tiến hóa nhưng nhu cầu của họ là cần làm sao giải quyết cái niềm sợ hãi, không an toàn. Họ cảm thấy cần được an toàn. Họ muốn giải quyết vấn đề tâm lý. Thành ra đầu tiên là sinh tồn thân thể, đến vấn đề sinh tồn của tâm lý, tức sự an toàn xong rồi, họ mới tới chỗ cho có tên tuổi, muốn người ta biết tới mình, muốn định vị trí của mình trong xã hội. Tới đây là mình thấy đã có một sự tiến hóa rồi. Như mình thấy khi mình mới đẻ ra, làm sao mình nghĩ mình sẽ xuất gia thành Phật? Nhưng bắt đầu lớn chút xíu rồi mình sẽ nghĩ khác. Quan điểm của mình sẽ thay đổi theo thời gian, theo vị trí sống của mình. Tất cả những thay đổi đó thường theo 1 chiều tiến hóa: thể xác trước, tới tâm lý, rồi tới tâm linh. Cho nên khi nói chuyện tu hành, nhất là trong thời đại bây giờ, khi đa số chúng ta ở Bắc Mỹ, Canada, Âu châu... đều có sự sinh sống, chức vị ổn định trong xã hội rồi thì thường mình sẽ nghĩ đến chuyện tâm linh. Mình muốn ngồi thiền, được an lạc. Hiện tượng đặc biệt nữa là mình muốn làm việc thiện, việc xã hội, cứu đời. Tất cả những cái đó là biểu tượng của việc mình đang tu, mà tu tiến hóa đó. Chuyện đó thường không xẩy ra ở những nơi như Phi châu chẳng hạn, nơi người ta đang cần sinh tồn...

Hỏi: Thưa thầy, thầy có nói tu hành là tùy theo các giai đoạn trong cuộc đời. Nhưng có những ngươi đi tu rất sớm, thí dụ như thầy. Vậy những người khoảng 40, 50, nếu họ tu thì có được không, có dễ không?

Đáp: Thầy xuất gia năm 19 tuổi rưỡi. Có những người đi tu còn trẻ hơn, ngày xưa thầy có một chú đệ tử 6 tuổi đã biết muốn đi tu rồi. Có nhiều người trẻ lắm đã có căn cơ. Nhưng người lớn tuổi thì quan điểm và kinh nghiệm sống của họ chững chạc, đứng đắn hơn vì vậy sự tu hành của họ đúng hơn. Nếu không dùng chữ tu, thì mình nói cái nhận thức về mình cao hơn, vững vàng hơn. Những người đó thực sự dễ dàng tiến hóa hơn. Lúc mới bắt đầu xuất gia, thầy không nghĩ rằng tu là tiến hóa mà nghĩ tu là mình sẽ đạt được một cảnh giới gì hay đạt tới thần thông, muốn giác ngộ. Mình không nghĩ rằng tu là tiến hóa. Nhưng có cái hay vô cùng là thì ra chuyện tiến hóa nó lạ lắm. Càng tiến hóa bao nhiêu thì mình lại càng xả thân mình cho người khác, tức là khi tu, không những mức độ tiến hóa càng lúc càng cao mà tâm mình càng lúc càng khai mở ra. Càng lên cao thì tâm mình càng mở ra. Phật thì mở ra đến tâm vô lượng vô biên. Sự khai mở đó đi đôi với sự tu hành cảnh giới cao. Thí dụ như khi mới tu, nếu mình giận 1 người nào thì người đó có đến xin lỗi mình, mình cũng không thèm tha thứ cho họ. Nhưng nếu mình tu, sửa đổi tánh tình của mình, mình không cần đi sửa đổi người ta, mình lo sửa tánh tình của mình tới một mức độ nào đó thì mình tha thứ cho người ta dễ lắm, mình nhìn người đó mà không còn sự giận dữ, ghét người đó nữa. Việc đó chứng tỏ tâm mình đủ rộng để chứa người đó trong lòng. Nếu 10 năm sau mà mình vẫn không chứa được người đó, mình không tha thứ được thì tâm mình vẫn nhỏ như thường.

Càng tu, tâm mình càng rộng mà càng rộng tức càng tha thứ. Đó là điều lạ thứ nhất, đặc điểm thứ nhất: càng tu tâm càng mở rộng. Cái đặc điểm thứ hai là càng tu thì càng vì người khác. Càng vì mình bao nhiêu thì cảnh giới của mình càng lúc càng nhỏ hẹp lại. Thành ra cái sửa đổi và tiến hóa là sự bố thí, cái lòng khai mở, cởi mở. Đặc tính đó là lý do mình gọi chương trình của mình là Khai Tâm vì mình thấy được rằng con đường tu hành là con đường tiến hóa mà con đường tiến hóa là con đường lúc nào cũng khai mở cả.

Hỏi: Thưa thầy, có người tu sớm, tu muộn. Như vậy, cái sự thành tựu như thế nào? Người xuất gia sớm thành tựu hơn người tại gia?

Đáp: Thường thường mình hiểu như vậy. Thời xưa trong văn hóa Đông phương, người ta nghĩ rằng con nít không ô nhiễm và dễ dàng thành tựu. Người ta nghĩ như vậy, “đồng chân nhập đạo”, dễ thành tựu cao hơn. Đó là quan điểm văn hóa quan trọng trong xã hội người Tàu. Cho nên nếu các bác qua bên Tây Tạng sẽ thấy con nít mấy tuổi đã cho xuất gia rồi. Có những người tái sanh mới 6, 7 tuổi đã đảnh lễ.

Quan điểm quan trọng nhất mình nhận ra là sự thành tựu không phải do tu sớm tu trễ mà là sự nhận thức làm sao để mình khai mở. Vì nếu mình tu lâu lắm nhưng mình không khai mở thì không được.

Có chuyện nói trong thiền môn như vầy: Hai người học trò tới tu với một ông thầy. Ông sư phụ hỏi: Con vì sao muốn xuất gia?

Người thứ nhất nói: Con nghe danh sư phụ nổi tiếng là người giác ngộ, có đến 8000 đồ đệ, có tới 300 ngôi chùa. Nên con muốn tu hành để trở nên một người như sư phụ để sau này có thể hoằng dương Phật pháp, hóa độ chúng sanh, tăng số chùa, tăng số đệ tử làm cho pháp của sư phụ mãi mãi bất diệt.

Người ngồi nghe phục lắm, nghĩ người đệ tử này thiệt là một người có tâm đạo, theo hoằng dương nối nghiệp sư phụ.

Người đệ tử thứ hai thì không nghĩ tới nhiều thêm chùa chiền, thêm đệ tử vì mục đích người tu là làm sao cho tâm khai mở, làm sao bố thí ra chứ không phải là được có thêm nhiều. Càng có thêm nhiều thì càng không được.

Người thứ hai nói: Con không nghĩ mục đích của con khi con tu là thêm chùa, thêm đệ tử. Con sợ sư phụ thất vọng là con không làm được chuyện đó. Mục đích của con là tu để làm sao con có thể đem sinh mạng con cống hiến cho chúng sanh, chứ con không có tư tưởng nào nghĩ về con nữa. Không có giờ phút nào con phải lo nghĩ về con, con muốn làm sao con nhỏ hơn hạt bụi nữa, làm sao con không có một mảy may nào là vì con cả.

Sư phụ cười không nói gì, hỏi tất cả những người ngồi đó: Như vây các con nghĩ thế nào về hai người đệ tử này của ta?

Còn các anh chị thì nghĩ sao?

Hỏi: Người thứ hai là người có tư tưởng đúng đắn nhất về vấn đề tu.

Đáp: Đúng. Anh chàng này muốn tiến hóa khai mở. Người kia thì muốn bên ngoài. Người thứ hai có mức độ hiểu được chính mình rõ ràng hơn. Đó gọi là mức độ tiến hóa. Ông Socrates nói: Mình hiểu chính mình, đó là con đường tâm linh. Cho nên con đường khai mở, con đường quan trọng nhất, là mình phải hiểu chính mình và mình phải mất đi chính mình. Tu có nghĩa là càng tu thì càng mất đi chính mình, không phải thêm vào. Tu là bố thí, là cởi mở. Làm cho mình không còn gì cả thì gọi là tu. Ông Lão Tử nói: Nếu vì cái đạo thì hằng ngày mình càng nên giảm bớt những cái mình có và giảm bớt mãi tới cái chỗ vô vi, không còn gì nữa. Nhưng cái học thì ngày càng tăng, tri thức tăng. Do đó khi bắt đầu tu hành, mình nên bắt đầu nghĩ tới chuyện làm sao mình tiến hóa, làm sao mở rộng ra, mất mình đi, chứ không thêm vào.

Hỏi: Tại sao hai người đều xuất gia mà nghĩ khác nhau? Vì người có căn tu, người không? Tại sao sự nhận thức khác biệt như vậy?

Đáp: Nói về chuyện căn tu, chắc có lẽ nói cho rõ ràng hơn thì là kinh nghiệm sống. Người thứ hai có lẽ có kinh nghiệm sống thực tiễn trong xã hội. Người đó có vẻ đã đụng chạm nhiều và thấy sự thất bại là mẹ của thành công, rằng sự nhục nhã không khác gì sự quang vinh cả. Do đó anh được tiến hóa. Người thứ nhất có lẽ là người chưa trưởng thành nhiều và có nhiều lý tưởng quá nên thường thường tự biến cái lý tưởng đó thành bản ngã. Có rất nhiều người mình thấy sống trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn khi mình chưa thành công trên đời, mình nghĩ công việc, tiền bạc là quan trọng nhất. Khi có tiền bạc vững vàng rồi, mình mới bắt đầu nghĩ rằng tiền bạc, công việc chưa phải là quan trọng mà phải có sự hy sinh, buông xả chính mình để giúp cho người khác vui vẻ. Mình thấy niềm vui của người khác cũng quan trọng tương đương như việc của chính mình. Do đó mình thấy ra cuộc đời mỗi người có một giai đoạn. Do đó người sau không phải là hay hay dở hơn người trước. Anh chàng sau có sự trưởng thành nhiều hơn người trước.

Hỏi: Con thấy có những lý do khác nhau làm người ta đi tu. Thầy có thể phân loại những lý do mà người ta đi tu?

Đáp: Lý do dễ dàng có lẽ là sinh tồn. Vừa rồi thầy đi Trung Hoa về và biết rằng người xuất gia cũng được trả tiền lương hằng tháng, do đó là vấn đề sinh tồn, đi tu được trả tiền thì tội gì mình không đi tu? Chuyện thứ hai nhiều khi là áp lực của gia đình khiến cho mình phải đi tu chứ không phải tự nguyện. Thứ ba nữa là do truyền thống.

Hỏi: Hay là vì họ thất bại trong đời sống nên họ muốn đi tu? Thất bại về tình cảm, công việc. Nếu đi tu vì những động lực như vậy thì có thành công được không thưa thầy?

Đáp: Câu hỏi rất hay. Nếu mình nghiên cứu thì sẽ thấy mỗi động cơ đều đưa tới một kết quả khác. Không một động cơ nào không có kết quả. Do đó, khi nói tới chuyện tu hành thì phải nghĩ tới cái động cơ. Hồi nãy mình nói lý do này nọ nhưng thật ra còn phải nhìn vào con đường đi từ động cơ cho tới kết quả. Thường thường, cái động cơ thì Phật giáo gọi là cái nhân, nhân nào thì quả đó. Nên người thất tình đi tu thì thường thường họ không nghĩ tới chuyện thành Phật hay tiến hóa mà chỉ nghĩ tới làm sao cho bớt cái niềm đau khổ. Vì cái động cơ là hết đau khổ nên tìm được an lạc trong chuyện tu hành, do đó sự phát triển bình thường là người đó sẽ hết sức nhẹ nhàng, hằng ngày tụng kinh để được an ủi. Do đó cái nhân quả rất quan trọng, mỗi người mình trồng một cái nhân, không ai giống ai cả. Nhiều khi trong chuyện tu hành, có rất nhiều cái nhân hội tụ lại, cho nên cái quả cũng rất là phức tạp, mình không thấy được liền. Cho nên khi nói chuyện tu hành nhân quả mình phải nhìn cái động cơ đầu tiên cả.

Hỏi: Người bình thường với đời sống bận rộn thì có cách nào hữu hiệu để tu không?

Đáp: Có! Có cách dễ dàng. Nếu mình nghĩ tu hành là một sự tiến hóa, khai mở thì tu dễ dàng thôi. Thường thường, mình nghĩ tu là phải mặc áo tràng, lên chùa... nên thấy khó. Nếu mình nghĩ tu có nghĩ a là thành Phật thì tu trở nên càng khó hơn. Nhưng nếu nghĩ rằng tu là một sự cởi mở, là một sự thay đổi con người mình thì tự nhiên nó dễ. Có những cái rất quan trọng. Nhưng cái mình nên thay đổi đầu tiên là cái nhìn. Do đó, cách hữu hiệu nhất cho người tại gia, người xuất gia hay bất kỳ người nào là thay đổi cái nhìn. Thay đổi cái nhìn là chuyện đầu tiên đức Phật dạy. Trong bát chánh đạo tức 8 con đường chính, thì con đường đầu tiên để tu là làm sao có chánh kiến tức thay đổi cái nhìn, nhìn làm sao mà khiến mình có thể vượt được ra ngoài cái sự đau khổ chướng ngại. Thường thường mình nhìn một cái tai nạn, chướng ngại nào đó là cái khổ cho mình. Nhưng nếu mình nhìn đó là một cơ hội để tiến hóa, thay đổi thì tức nhiên nó khác. Do đó gần như là phương tiện đầu tiên dễ dàng hữu hiệu nhất là khi mỗi chuyện tới, mình đổi cái nhìn khác. Thầy cho thí dụ: Cô này đã có chồng và 2 đứa con. Cô muốn đi tu nhưng không biết làm sao. Hôm đó ông chồng đi chơi với cô, thấy một người đàn bà đẹp, ông khen. Bà vợ hỏi: Nếu anh thấy người đẹp anh khen như vậy, anh có bao giờ nghĩ rằng anh muốn sống với một người đẹp hơn em không? Ông chồng nói: Đương nhiên! Đàn ông nào không muốn sống với người đẹp.

Sau đó, bà này tìm một người đàn bà mới giới thiệu cho chồng cưới bà đó rồi bà đi tu. Người ta hỏi tại sao bà có thể làm chuyện đó được? Vì tình vợ chồng gắn bó, tình yêu là muốn chiếm hữu. Bà nói: Sở dĩ tôi làm được như vậy là vì tôi thay đổi quan điểm. Hồi xưa tôi nghĩ vợ chồng là gắn bó lắm, là 1 chứ không là 2. Nhưng khi tôi học Phật pháp, tôi thấy thì ra trước sau gì mình cũng phải tự lo cho mình, trước sau gì mình cũng phải ở riêng mới tu được. Chính vì đó mà tôi thay đổi quan niệm. Nếu tôi muốn chồng tôi tốt thì tôi phải cho ông sung sướng. Ông muốn người khác nhưng ông chưa nói thì tôi cúng dường.

Mình không nói rằng tất cả những người đàn bà nên làm như vậy, ở đây mình chỉ nói đến cái sự thay đổi cái nhìn của bà này.

Hỏi: Người ta thường nói câu: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa. Như vậy có phải dễ nhất là tu ở chùa không. Theo con thấy là tu chùa khó lắm, đâu phải ai cũng đi tu được.

Đáp: Tu chợ thì khó, tu nhà thì càng khó hơn vì người nào cũng biết mình cả, mình không trốn được. Ở chùa mình làm gì không ai biết nên thực sự tu ở chùa dễ hơn ở nhà. Ông Lão tử nói rằng muốn tu chân thật thì phải tu cái thân của mình. Tu chùa khó ở chỗ phải ép mình vào khuôn khổ, thí dụ dậy sớm, sáng 4 giờ dậy, tối 12 giờ tụng kinh..., ăn ít, không có tiền bạc, đi ngược lại dục vọng. Những cái khó là cái khuôn khổ của chùa nhưng tu ở nhà khó là vì mình phải chân thật với chính mình, phải đối diện với chính mình, phải làm sao cho người ta vui vẻ, hai cái khó khác nhau. Tu nhà tu chợ tu chùa mình không thể so sánh, mỗi nơi có một khó khăn khác nhau. Tu là mức độ đổi cái nhìn, mức độ tâm cởi mở. Nếu các anh chị muốn nhớ được ý nghĩa của tu hành thì có 3 chuyện: 1 là tu làm sao càng ngày càng cởi mở, 2 là tu thì làm sao thay đổi cái nhìn cho rộng ra, 3 là tu phải có một sự tiến hóa, thí dụ 5 năm sau nhìn lại thấy xưa mình ấu trĩ quá, con nít quá. Nghĩ được như vậy thì gọi là tu. Ba điểm đó gần như là yếu tố chính để mình biết là mình có tu hành hay không.

Hỏi: Như vậy có cách gì thiết thực để thực hiện những chuyện đó?

Đáp: Chuyện đầu tiên là sửa đổi cái nhìn. Muốn sửa đổi cái nhìn thì mình phải đi học. Phật giáo nói là mình phải gần người thiện tri thức, người hiểu biết nhiều. Thiện là điều tốt, điều hay, tri là biết, thức là người có kiến thức. Người có kiến thức, hiểu biết hay thì mình nên gần. Mình muốn tới gần người có tánh tốt để mình học, đó là cách để mình thay đổi cái nhìn. Đối với người tu tại gia thì mình cần có người mình gọi là người hiền, mình chưa cần tới ông thánh, mình cần tới người hiền, có tâm đạo cởi mở để mình học, bắt chước. Thường thường khi tu mình bắt chước nhiều hơn là học chữ nghĩa. Nhiều khi mình nghĩ tu là đọc sách nhưng thực sự là bắt chước nhiều hơn là đọc sách. Nhưng đọc sách cũng là quan trọng vì đọc sách mở mang những ý tưởng, tâm trí để mình biết con đường đạo mà đi theo. Nếu nói đúng thì tu tại gia là đổi cái nhìn, lúc nào cũng cởi mở, cởi mở ra cả. Đối với người tại gia, mình cần chú ý tới mấy chuyện sau: 1 là tu cái bụng tức tu làm sao để lương tâm đứng đắn, 2 là tu cái ngực, tức là con tim, làm sao cho con tim của mình cảm nhận được sự lành. Cái bụng thì cảm nhận sự đứng đắn, là lương tâm cảm nhận sự thiện, nhưng cái tâm thì cảm nhận sự lành. Tức là đối với cái bụng thì mình tu làm sao để việc gì trái với lương tâm thì mình không làm. Tu tâm thì khai mở. Việc gì làm mình cảm thấy thoải mái, việc thiện, lành thì mình phải làm. Ba là tu cái óc, tức là con đường thánh hiền, triết lý làm cho mình có thể sáng tạo hơn, mở rộng hơn. Nói một cách tổng quát thì đường tu là như vậy

Hỏi: Cách tu có khác nhau tùy theo lứa tuổi?

Đáp: Đúng, mỗi lứa tuổi có một lối tu khác nhau, nếu nói sâu sắc hơn nữa thì không phải là vì tuổi. Lớp tuổi khác nhau là vì thân thể. Người già không thể ngồi thiền lâu được. Nói về các lớp tuổi là nói về sức khỏe của thân thể nhưng nói về phương pháp tu khác nhau như thế nào là nói về mức độ trưởng thành của tâm linh, tâm lý và nhận thức, 3 cái. Nếu một người tâm lý không trưởng thành thì chỉ tu cho an toàn thôi, mình chỉ nói: bác ngồi đó niệm Phật thì Phật sẽ độ cho bác. Người tâm lý trưởng thành thì mình nói bây giờ bác đi làm việc thiện giúp người khác đi. Nếu nhận thức trưởng thành thì mình nói đây là con đường đạo, bây giờ bác nên làm chuyện này: tới chùa, hội đoàn này, cộng đồng kia... làm những chuyện này để mở tâm ra, khai tâm người ta. Cuối cùng, tâm linh người ta đã chín mùi thì mình nói khác. Nếu tâm linh người ta chưa khai mở, không thấy chuyện tu hành quan trọng thì có cách tu khác, nhiều khi chỉ là tu làm sao cho thân thể khỏe mạnh. Nhiều người nghĩ tu làm sao cho thân thể khỏe mạnh thì chỉ là “thể dục” mà người ta không biết té ra thân thể khỏe mạnh là một phần của tu hành bởi vì tu thì phải đều hết, toàn diện chứ không thể nghĩ tu là chỉ có chuyện tâm linh mà thôi.

Hỏi: Chuyện gần người thiện tri thức rất là quan trọng, thưa thầy.

Đáp: Tức là chọn bạn lành, hiểu biết, giúp mình tu. Kinh Hoa Nghiêm nói gần như 7, 8 chục phần trăm là mình phải nhờ người bạn lành chỉ dạy hướng dẫn. Cái đó cũng nói lên một quan điểm của tôn giáo là thường thường đặt nặng vấn đề giáo dục, đi học, bắt chước theo, được dạy... Mà điều đó đưa tới một điều khác nữa trong quan điểm tu hành là mình phải muốn tu mới được, nhiều khi người ta muốn dạy mà mình không muốn tu thì cũng khó. Nhiều khi mình đi theo thầy tu nhưng không tu theo thầy, phiền lắm... Mình phải mở cái tâm ra để chịu tu.

Hỏi: Tu toàn diện là gì, thưa thầy?

Đáp: Tu toàn diện bắt đầu bằng tu thân. Thường Phật giáo nghĩ tu thân tức là tu về đạo đức thôi, đừng ăn trộm, ăn cắp, đừng tà dâm... Nhưng không ngờ tu thân còn là tu cái thân thể của mình. Thể dục và đức dục là 2 môn khác nhau. Thể dục là giáo dục cái thân thể, làm sao cho thân thể khỏe mạnh, tráng kiện. Như hồi xưa ở Thiếu Lâm Tự, tất cả các ông tăng và những người tới chùa, người nào cũng phải có sức khỏe để làm sao có thể tu lâu dài và càng tu càng tiến hóa. Do đó, quan niệm tu toàn diện là quan niệm tu cái thân và tu mặt tâm lý tức làm sao cái tâm đại bi, cái tình thương mình được mở ra, làm sao có thái độ lúc nào cũng cởi mở cả. Mình phải tu cái mức độ trí óc. Mình có trí óc và có con tim. Tu trí óc là làm sao mình phải sáng tạo, hằng ngày vận dụng trí óc chuyên chú vào chuyện đang làm và có thể phát triển được tới mức cái nhìn, vũ trụ quan rộng mở. Tu cái thân, tu tâm lý, tu trí năng, cuối cùng là tu tâm linh tức tu cái mức độ nhận thức về bản ngã, về cõi tâm linh, cõi im lặng.

Do đó, con người mình phức tạp, không phải chỉ có chuyện tu ngồi 1 chỗ hay quan niệm tu là lên chùa gõ mõ tụng kinh, hay tới chỗ bây giờ mình gọi đời mạt pháp, người ta nghĩ rằng tu là làm sao có áo tràng cho tốt cho đẹp, lên chùa cúng dường và ngồi đó để tụng niệm mà thôi, không thấy rằng chuyện bên ngoài đó không dính dáng gì tới chuyện tiến hóa của tâm linh, sự khai mở của cõi lòng và sự không ngừng thay đổi quan điểm, thay đổi cái tầm nhìn cả. Chuyện hiểu lầm lớn làm cho mình không tu toàn diện được là nghĩ rằng tu là gắn liền với chùa, gắn liền với cái động tác gõ mõ tụng kinh, đưa đám, treo tràng chuỗi..., bị dính vào lễ nghi mà không nghĩ được rộng hơn rằng tu là một sự biến đổi của thân thể và tâm linh.

Lời cuối: Con đường tu là con đường rất tự nhiên bởi vì nó là con đường thay đổi cái nhìn của mình, con đường làm cho mình cởi mở, tâm mình càng ngày càng rộng lớn hơn, con đường làm sao cho mình càng ngày càng tiến hóa, trở nên tốt hơn, đẹp hơn. Do đó con đường tu không phải là con đường dính liền với sự xuất gia hay tại gia mà là con đường khai mở. Chữ khai mở sẽ gắn liền vào chữ tu.

Ý Nghĩa Về Phóng Sanh

Kinh Luận Đại Trí Độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác thì tội giết hại nặng nhất. Trong tất cả các công đức thì không giết hại cao trội hơn cả”.


Vậy mà, mỗi ngày trong đời sống chúng ta đều diễn ra vô số sát nghiệp. Từ những con vật lớn như heo, bò, dê, chó…, cho đến các sinh mạng nhỏ như chim, cá, tôm…, đều bị giết hại vô số kể để làm thức ăn cho con người. Nếu trong những sinh mạng sắp sửa bị giết hại một cách thê thảm đó, chúng ta có thể - bằng cách này hoặc cách khác- cứu thoát chúng, phóng thích chúng về với môi trường sinh hoạt tự nhiên, dù chỉ là những con vật bé mọn với số ít hay những con lớn với số nhiều…, đều là thực hành phóng sinh, đều tạo thiện duyên vô cùng to lớn, có thể giải trừ rất nhiều nghiệp chướng, báo chướng cho tất cả chúng ta.

Ở góc độ tương đối, khi thực hiện phóng sinh, chúng ta có thể hành theo ý nghĩa sau:

- Phóng sinh phải phát xuất từ lòng từ bi, không vì ý nghĩa tư lợi (như cầu sống thọ, cầu may mắn, giải trừ tật bệnh…) Vì nếu không như vậy, việc phóng sinh tuy có tốt, nhưng hiệu quả lại rất hạn chế. Tâm từ bi không khởi sinh, còn nói gì đến chuyện nuôi dưỡng!.

- Phóng sinh là tự do, không phân lượng lớn nhỏ, ít nhiều, không chọn ngày giờ tốt xấu, không nên chờ dịp này hay dịp khác…. Vì các loại lươn, cá, ốc, thú rừng … bị săn bắt phục vụ cho người ăn thịt lúc nào, ngày nào cũng có; mà thời lượng nào thì sự nguy cấp cũng đều như nhau. Nên, khi ta phát tâm từ bi thì liền thực hiện - tùy vào khả năng từ một, hai con đến muôn ngàn con cũng phải lập tức cứu thoát chúng – càng nhanh càng tốt, mà chẳng cầu được ai biết đến.

- Khi phóng sinh cần thực hiện âm thầm, chọn nơi vắng vẻ càng tốt, vì pháp sự này không nên kích thích lòng tham của những người săn bắt, tạo thêm nghiệp chướng cho họ mà chính chúng ta cũng bị giảm phần công đức.

- Khi phóng sinh, thao tác phải nhanh nhẹn, rốt ráo; nghi lễ ngắn gọn nhưng đủ sức tế độ; không nên nặng phần hình thức, tránh cho các sinh vật phải chịu kéo dài nỗi khổ sợ hãi, ngột ngạt, tù túng vì bị giam cầm; có khi chúng phải mất mạng trước khi được ta phóng thích.

Phóng sinh là cứu chuộc sinh mạng, là từ tâm, là tu trí tuệ Bát Nhã, là hành năm giới luật, là trả nghiệp, là hồi hướng cho chúng sanh ở khắp pháp giới… Nhưng mục đích và ý nghĩa của nó không chỉ dừng ở đấy, vì lẽ, phóng sinh pháp sự trong đạo Phật là một phương thức nhằm cứu vớt đời sống ra khỏi những khổ đau vì ác nghiệp, vượt thoát sinh tử.

- Trì danh, niệm Phật chính là phóng sinh, giúp chúng ta “Một đời vãng sanh, được bất thối chuyển”, đạt đến “Tâm như hư không vô sở chướng ngại”. Dễ tu, dễ đắc.

- Thực hành thiền định chính là phóng sinh. Với tôn chỉ “Chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật”, giúp chúng ta có định lực, có được đời sống tinh thần tốt đẹp, từ đó nó sẽ đem đến cho chúng ta niềm vui thù thắng, vi diệu.

- Tu tập Hoa Nghiêm cũng là phóng sinh: “Lìa thế gian, nhập pháp giới”. Tự tại và vô úy.

- Thâm nhập Thiên Thai giáo: “Mở, bày, tỏ, ngộ vào tri kiến Phật”, thu nhiếp mọi vấn đề về một mối, theo lẽ “Nhất dĩ quán chi” để trở về với thế giới bình yên nội tại chưa từng sinh và chưa từng diệt. Đó cũng là phóng sinh.

- Đi vào Tam Luận là phóng sinh: “Lìa hai bên vào Trung đạo” – Không lấy dục lạc làm lẽ sống đời người, không sống khổ hạnh ép xác. Nếu ai cũng biết điều chỉnh cuộc sống vừa phải cho chính mình, sống trải lòng ra với mọi người, đó há không phải là cảnh vui đắc Niết bàn?

- Hành tu Pháp Tướng môn “Nhiếp muôn pháp về Chơn duy thức” trí tuệ và chiều sâu – trong tất cả và không ở đâu cả, giúp chúng ta nhận ra mối tương quan giữa mình với toàn thể, giữa ta với toàn thể là một. Chúng ta nhận ra thực tại cuộc sống. Chính là phóng sinh!

- Sở đắc Mật giáo: “Tam mật tương ưng, tức thân thành Phật”. Ẩn tàng trong mở phơi, hiển lộ trong khuất lấp, đó là thể diệu của tinh hoa phát tiết và cũng là choã u mật nhất “A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề”. Không ngoài nghĩa phóng sinh.

- Và, Luật môn “Nhiếp thân ngữ ý vào Thi La tánh” chính là phóng sinh – dưới cái nhìn thăm thẳm khác, bốc tia huyền nhiệm từ thâm u Ba la mật…

Tất cả thực thể siêu hình ấy đã phản ánh trong kinh Lăng Già Tâm Ấn: Đại nhi vô ngoại, tiểu nhi vô nội… Lớn đến không còn có ngoài, nhỏ đến không cần có trong … Lớn nhỏ mất biên giới thành một cái mà Lão giáo gọi là Đắc Nhất: Cả một yếu lý siêu hình và không – thời – gian – vạn – vật chứa trong tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, hình dung “cõi” mà chúng ta đang tới: Cõi vô cùng mà hữu cùng, hữu cùng mà lại vô cùng… Một khi ranh giới đã bị xóa bỏ, đã đồng hóa thì không còn trong, không còn ngoài, không còn cao, không còn thấp… tất cả làm một, cùng biểu thị yếu lý của sự giải thoát.

Tâm nhàn muôn sự thông ba cõi

Một tiếng cười khan ấm đất trời

Đó chính là phóng sinh Ba la mật. An lành và tĩnh tại.

Việt Nam Phật Quốc Tự-Ấn Độ

Chúng tôi đã sống xa quê hương hơn 30 năm chỉ với một nguyện ước duy nhất là cố gắng xây dựng được một ngôi chùa mang tên Việt Nam thân yêu, trên mảnh đất cội nguồn của Đạo Phật, như mang đóa hoa đến một vườn hoa để tạo nên một gam màu hài hòa cho cuộc sống mỗi ngày thêm ý nghĩa. Đồng thời, cũng muốn góp tiếng nói nho nhỏ cho quê hương, cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam, ra thế giới bên ngoài.


I. NHÂN DUYÊN HÌNH THÀNH NGÔI CHÙA

Việt Nam Phật Quốc Tự là tên gọi của một ngôi chùa Việt Nam, lần đầu tiên có mặt trên đất nước Ấn Độ. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng, gần Bồ-đề Đạo tràng, nơi Đức Từ Phụ Thích-ca ngồi dưới cội Bồ-đề thành đạo cách nay gần 3 thiên niên kỷ, và cũng chính là Thánh tích quan trọng và có ý nghĩa nhất trong bốn Thánh tích của Phật giáo, được khắp năm châu biết đến như ngày hôm nay. là tên gọi của một ngôi chùa Việt Nam, lần đầu tiên có mặt trên đất nước Ấn Độ. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng, gần Bồ-đề Đạo tràng, nơi Đức Từ Phụ Thích-ca ngồi dưới cội Bồ-đề thành đạo cách nay gần 3 thiên niên kỷ, và cũng chính là Thánh tích quan trọng và có ý nghĩa nhất trong bốn Thánh tích của Phật giáo, được khắp năm châu biết đến như ngày hôm nay.

Lần đầu tiên khi chúng tôi đặt chân đến nơi này, lòng dâng lên một niềm cảm xúc vô hạn khi nhận thấy cái nôi Phật giáo, nơi sản sinh ra một bậc vĩ nhân, mang lại ánh sáng trí tuệ, bình đẳng và sự thịnh vượng cho nhân dân Ấn Độ nói riêng và nhân loại nói chung, sự đóng góp đó hơn suốt 10 thế kỷ. Nhưng kể từ thế kỷ thứ XIII trở đi, Phật giáo Ấn Độ chẳng may bị pháp nạn Hồi giáo làm mất đi gần hết những di sản quí báu nhất, để ngày nay, Phật giáo Ấn Độ chỉ còn là một con số rất khiêm tốn so với các tôn giáo khác đang có mặt. Trong khi đó, các nước Đông Nam Á vẫn tiếp nối và phát triển mạnh nền tảng triết lý Từ bi, Vô ngã, Vị tha và Bình đẳng của Đạo Phật như là một người bạn đồng hành, một nguồn sinh lực không thể thiếu trong cơ thể, để quân bình đời sống giữa vật chất và tinh thần cho từng cá nhân qua nhiều thời đại, trong đó, có đất nước và dân tộc Việt Nam. Nên khi, nhìn thấy các chùa của nhiều nước trong khu vực đã và đang góp phần làm hồi sinh lại cái nôi Phật giáo tại Thánh địa Bồ-đề đạo tràng, như gìn giữ những di sản vô giá cùa nhân loại, thì lẽ đâu, Phật giáo Việt Nam lại không có sự góp phần thiết thực vào công cuộc thiêng liêng đó. Vì vậy, chúng tôi đã ấp ủ nguyện ước khi còn ngồi trên ghế của Trường đại học Nalanda, xây dựng một ngôi chùa Việt Nam, để mỗi khi chư tôn đức Tăng-Ni, quí Phật Tử khắp nơi trên thế giới nói riêng và cho tất cả những người con Phật nói chung trở về cội nguồn chiêm bái các Thánh tích, có được một nơi trang nghiêm thanh tịnh để tăng trưởng Bồ-đề tâm, và cảm nhận thêm nhiều niềm hạnh phúc, an lạc trong những ngày tháng lưu lại trên đất Phật.


Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi hơn suốt 20 năm, chúng tôi nhận được khá nhiều những niềm khích lệ lớn lao từ các bậc trưởng thượng, các pháp lữ và những tấm lòng son thiết tha yêu mến đạo pháp của quí Phật Tử khắp nơi hướng về. Chính vì những lý do đó, chúng tôi không ngần ngại đem chút ít tài sơ đức bạc để đóng góp cho nền văn hiến mấy nghìn năm của dân tộc trên đất Phật lịch sử. Như chúng ta đã thấy các truyền thống văn hoá của Phật giáo Việt Nam không thua kém bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Là người Phật tử Việt Nam chúng ta cần nâng cao ý thức bảo tồn những di sản văn hóa mà các bậc tiền nhân đã dầy công tạo dựng. Niềm mơ ước muốn đem cái giá trị đích thực đó giới thiệu đến các nước cộng đồng Phật giáo trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung đã trở thành động lực chính yếu giúp chúng tôi bền chí bám trụ và vượt qua những năm tháng cực kỳ khó khăn, biến nguyện ước trở thành hiện thực. Cuối cùng, duyên lành đã hội đủ; chúng tôi mua được miếng đất, và làm lễ đặt viên đá đầu tiên vào ngày 24-05-1987, đó cũng chính là ngày đáng ghi nhớ để đưa ngôi chùa Việt Nam đi vào hoạt động trên đất Phật như ngày hôm nay.

Một góc chùa Việt Nam Phật Quốc Tự

II. ĐỊA PHẬN CỦA CHÙA

Việt Nam Phật Quốc Tự tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 15 công, giữa những ruộng đất bao la, cách Bồ-đề đạo tràng và khu thị tứ 2 km về phía Tây Nam. Vì đất mua được đến đâu chúng tôi cho xây dựng những công trình đến đó, nên chu vi và những cấu trúc cũng bị lệ thuộc theo không gian hiện có của chùa. Đó là sự việc ngoài ý muốn của chúng tôi. Tuy nhiên khu đất rộng rãi đã tạo nên quang cảnh của chùa yên tĩnh, thoáng mát và đầy những tiếng chim chóc hót líu lo khi ngồi nghỉ chân dưới những tàng cây rợp bóng mát. Một khung cảnh an tĩnh như vậy chắc chắn rất thích hợp cho việc tu tập và thiền định trong những ngày quí vị đến chiêm bái Thánh địa và lưu lại nơi đây. Khác với những ngôi chùa lân cận vốn được xây dựng bằng kinh phí của quốc gia, Việt Nam Phật Quốc Tự được dựng lên bằng những nỗ lực cá nhân cộng với sự hỗ trợ của tăng ni Phật tử các nơi nên các phương tiện vật chất của chùa cũng khiêm tốn và kém tiện nghi. Song, nó đã được sự bù lấp lại bằng sự có mặt của nhiều cây ăn trái và hoa quả từ quê hương mang sang. Vì vậy, trong những ngày lưu lại nơi đây các vị sẽ cảm nhận phần nào hương vị của một "Việt Nam xanh và thiên nhiên" trên mảnh đất trù phú của Ấn Độ.

Chuông đồng tại Việt Nam Phật Quốc Tự

III. CẤU TRÚC 

1/ Chính điện  

Từ cổng chính đi vào, các vị sẽ thấy ngôi chùa được xây dựng kiên cố bằng bê-tông, cốt sắt với cấu trúc hình vuông và 2 mái cong vươn cao giữa những tàng cây, như đóa sen vượt khỏi mặt nước bùn lầy, tỏa hương thơm nhằm góp phần mang lại sự trong sáng, tinh khiết, để tô điểm cho cuộc sống mỗi ngày thêm được thăng hoa và đầy ý nghĩa. Đồng thời, kiến trúc của ngôi chánh điện cũng thể hiện được truyền thống bất khuất trước ngoại xăm của dân tộc Việt Nam.
Chánh điện có chu vi 64m vuông với chiều cao 24m, gồm 3 tầng. Tầng trệt là pháp xá có thể dung chứa cho 30 mươi vị khách Tăng mỗi khi trở về chiêm bái Thánh địa. Tầng thứ 2 dùng để trưng bày những di tích, kinh sách, pháp khí trong và ngoài nước. Tầng thứ 3 là tôn thờ Đức Bổn Sư Thích-ca và chư vị Bồ-tát. Phía sau chính điện là hậu Tổ, tôn thờ các vị Thánh đệ tử và các vị Thánh Tăng Việt Nam qua các triều đại. Đối diện với bàn thờ Tổ là bàn tưởng niệm các vị anh linh tổ quốc Việt Nam.

2/ Tháp Vạn Phật 

Được an trí phía trước bên trái của chính điện, với bán kính là 12m và tổng chiều cao là 22m, chia đều cho 7 tầng. Bên trong tôn thờ Xá-Lợi Đức Phật Thích-ca và 10.000 vị Phật, còn lại tầng hầm sẽ thờ chư hương linh quá vãng.

3/ Đài Quan Âm 

Có thể nói đây là nét riêng của Việt Nam Phật Quốc Tự, vì Bồ-tát Quán Âm có 3 gương mặt khác nhau, để thể hiện tính độ sinh bất khả tư nghì của ngài: 
" .. Quan Âm sức trí diệu,
Hay cứu đời thoát khổ,"
Đầy đủ sức thần thông,
Rộng tu trí phương tiện,
Các cõi nước mười phương,
Không cõi nào chẳng hiện.."
Tổng diện tích của đài Quan Âm sẽ gấp bốn lần, và cấu trúc hoàn toàn giống chùa Một Cột ở miền Bắc hiện nay, nhằm để giới thiệu nét văn hóa của Phật giáo Việt Nam cho các nước Phật giáo bạn.
Tuy nhiên, Tháp Vạn Phật và đài Quan Âm chỉ mới đặt nền mống và sẽ được xây dựng trong tương lai gần đây khi chúng tôi có đủ kinh phí và người cộng sự. Sau khi hoàn tất 2 công trình này, chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng gác chuông, gác trống. Hiện nay chúng tôi đã có đại hồng chung, nặng 2 tấn rưỡi, với bán kính 1,50m và chiều cao là 2,60m; trống sấm có bán kính là 1m và chiều dài là 1,50m, tất cả đều được làm từ trong nước, để mang nét đặt thù của dân tộc.


IV. PHÁP XÁ

Hiện nay, chùa đã đưa vào sử dụng 2 dải pháp xá, một dải được xây dựng dọc theo khu đất với chiều dài là 47m, gồm có 3 tầng và 21 phòng, mỗi phòng có thể chứa được 3 người. Tuy nhiên, trong thời gian qua do chờ đợi chính điện hoàn tất, chúng tôi đã sử dụng 2 phòng to để làm chính điện và thiền đường, cho chư tôn đức Tăng-Ni và quí Phật Tử có nơi tụng niệm, lễ bái và tu tập thiền định, ngỏ hầu tăng thêm phước báu trong những ngày lưu lại tại bổn tự. Phía trước mỗi phòng đều có bia đá khắc tên các vị Thánh tăng và danh Tăng Việt Nam, nhằm bày tỏ niềm kính nhớ công hạnh và sự đóng góp to lớn của quí ngài cho quê hương. Và dải pháp xá thứ 2 được xây dựng theo chiều ngang của khu đất, với chiều dài 49m, chiều ngang 16m, gồm có tất cả là 13 phòng, trong đó một nhà ăn 8 x 12m có thể để được 3 dải quá đường. Dự kiến, dải pháp xá này sẽ được lên thêm 2 tầng và đồng thời trang trí nội thất một tầng hầm, dành cho những phái đoàn có đi chiêm bái vào mùa hè thì cũng sẽ có nơi nghỉ ngơi, để tránh cái nóng khắc nghiệt của thời tiết xứ Ấn độ.

Đài gác chuông trong khuôn viên chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ở Bodhgaya. Khuôn viên chùa rộng 5 mẫu và trồng rất nhiều cây.

V. KHU VƯỜN

Như chúng tôi đã đề cập, do vì không được sự hỗ trợ kinh phí của quốc gia, nên chúng tôi chỉ xây cất chùa theo khả năng có được từ những tấm lòng son của chư tôn đức Tăng-Ni, quí Phật Tử, đệ tử và những người học trò của chúng tôi ủng hộ. Vì vậy, chúng tôi đã phát huy khu vườn với nhiều cây trái để tạo cảnh thiên nhiên cho ngôi chùa; đồng thời cũng là một biểu hiện góp phần gìn giữ môi sinh để quân bình sinh thái cho nhân loại tránh đi nạn thiên tai, lũ lụt trong những thập niên qua.

Tượng ba con khỉ: “Không thấy, không nói, không nghe”

1/ Cây ăn trái 

Dọc theo những con đường nhỏ quanh co uốn lượn trong khuôn viên của chùa, chúng tôi trồng nhiều cây ăn trái của vùng nhiệt đới và quen thuộc với người Việt Nam như: cây trái vãi, măn cục, mít, táo, cam, bưởi, xoài (gồm có 30 loại khác nhau), ổi xá lị (cũng có đến 12 loại), và nhiều loại cây trái khác, đã và đang cho quả trong nhiều năm qua.

2/ Các loại hoa kiểng 

Phía trước chính điện và 2 dải pháp xá, chúng tôi đã trồng nhiều loại hoa kiểng được mang giống từ quê nhà sang: Hoa đào, mai vàng, mai trước thuỷ, lan, sứ, thiên lý ..., và các loại cây kiểng: Tùng, trắc bá diệp, sao, thông, tre, tầm vong, trúc, cau, ngâu, phượng vĩ, điệp tây... Mặc dù, cây kiểng hoa quả được trồng khá nhiều trong khuôn viên, nhưng mỗi lần về thăm quê huơng, hoặc có những Phật Tử sang đây, chúng tôi đều cố gắng hoặc nhờ người mang thêm nhiều loại khác để giúp cho khung cảnh của chùa trở nên phong phú và thật sự là thiên nhiên Việt Nam.

3/ Những cây cỏ có liên quan đến lịch sử Đức Phật 

Chúng tôi không chỉ tạo cảnh thiên nhiên thuần túy cho chùa và môi sinh mà còn hướng đến sự duy trì lịch sử Phật giáo, qua những loại cây cỏ có liên quan đến đời sống của Đức Phật ngày xưa: cây Simsapa mà Đức Phật đã hái nắm lá để chỉ cho hàng Thánh đệ tử về giáo pháp của Ngài "sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp mà tôi đã chứng đắc, nhiều như lá trong rừng, và những gì tôi đã thuyết giảng cho các thầy chỉ bằng như nắm lá trong tay của tôi vậy..." Cây quan trọng không kém đó là cây Long-Hoa (Nagarsana) mà Đức Phật đã thọ ký cho ngài Di-lặc sẽ ngồi dưới cội cây này thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong tương lai. Cây đó, hiện nay tại Ấn Độ dường như đã mất giống. Chúng tôi đã sang tận nước Miến Điện để mang về trồng. Kế đến là một loài cỏ mà ngày xưa Đức Phật đã nhận sự cúng dường từ một đứa bé trai chăn bò, dùng để trải dưới cội Bồ-đề ngồi thiền định. Ngoài ra, còn nhiều loại cây khác như: Trúc, Ta-la Song thọ, Ashok (Vô Ưu) ... đã được chúng tôi chăm sóc cẩn thận như gìn giữ một di sản vô giá của Phật giáo.



VI. LỜI KẾT

Thưa các vị, chúng tôi đã sống xa quê hương hơn 30 năm chỉ với một nguyện ước duy nhất là cố gắng xây dựng được một ngôi chùa mang tên Việt Nam thân yêu, trên mảnh đất cội nguồn của Đạo Phật, như mang đóa hoa đến một vườn hoa để tạo nên một gam màu hài hòa cho cuộc sống mỗi ngày thêm ý nghĩa. Đồng thời, cũng muốn góp tiếng nói nho nhỏ cho quê hương, cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam, ra thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, những thành công khiêm tốn này của thầy trò chúng tôi chỉ như là người lót đá đầu tiên cho một con đường, nên còn rất nhiều sự thiếu sót bởi khả năng và những mặt khách quan khác. Vì vậy, chúng tôi luôn nguyện cầu Tam Bảo gia hộ, để trong tương lai có được các vị chân tu, thật tài đến đây gìn giữ và phát triển đúng với tầm vóc, một ngôi chùa đại diện cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam trên đất Phật; đồng thời, góp phần tô điểm cho Thánh địa nở hoa Từ-bi, để mang lại nền hòa bình chân chính cho nhân loại trong thế kỷ thứ XXI này.

Ngoài ra, chúng tôi cũng ước mong chư tôn đức Tăng-Ni và quí Phật Tử khắp nơi trên thế giới, hãy một lần trở về cội nguồn đất Phật để chiêm bái các Thánh tích, nhằm phát triển đạo tâm và niềm hạnh phúc, an lạc cho đời này và nhiều đời sau. Đồng thời, hình ảnh của các vị sẽ là một trong những yếu tố làm làm hồi sinh lại các Thánh tích và Phật giáo Ấn Độ, để nhân loại có một hướng đi "Trung Đạo" quân bình giữa vật chất và tinh thần mà không phải mất cân đối như hiện nay! 

Việt Nam Phật Quốc Tự sẽ nhiệt tâm chào đón toàn thể chư liệt quí vị trong những ngày tháng đến chiêm bái Thánh địa và lưu lại bổn tự, như là niềm khích lệ lớn lao cho thầy trò chúng tôi trên bước đường phụng sự "Phật pháp" ! Đồng thời, thành tâm kính chúc toàn thể quí vị được vô lượng công đức, vô lượng an lạc, hạnh phúc sau chuyến chiêm bái. Kính mong rằng, khi trở về các vị sẽ được thành công trên nhiều phương diện, ngỏ hầu làm tốt đạo đẹp đời cho quê hương Việt Nam trong hiện tại và mãi đến ngàn sau!

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát.
Thay mặt hội đồng điều hành VNPQT. 
Kính ghi, 
TT. THÍCH HUYỀN DIỆU 

Sources: thuvienhoasen.org
Photos: vietnamphatquoctu.com

Technology